Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 60/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 22-4-2024

V/v “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Mỹ Linh;

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Thành Hiệp;
  2. Ông Nguyễn Hoàng Tiến

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Ngọc - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tố Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 15/2024/TLST-HNGĐ, ngày 18 tháng 01 năm 2024 về việc: "Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/3/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Lưu Thị N, sinh năm 1997 (có đơn xin vắng mặt);
  2. Cư trú: Ấp V, xã V, huyện C, An Giang.

  3. Bị đơn: Anh Lâm Văn N1, sinh năm 1995 (vắng mặt);
  4. Cư trú: Ấp H, xã V, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lưu Thị N trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và ông Lâm Văn N1 tự tìm hiểu quen biết, tự nguyện sống chung vào cuối năm 2016, không tổ chức đám cưới, nhưng có đăng ký kết hôn số 10, ngày 22/02/2018 tại Ủy ban nhân dân xã V, C, An Giang.

Sau khi kết hôn, chị về chung sống với gia đình cha mẹ chồng được thời gian ngắn. Đến đầu năm 2018, vợ chồng cùng lên Long An sinh sống. Cuộc sống êm ấm chỉ được một thời gian ngắn đến cuối năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng trong cuộc sống, anh N1 không lo làm ăn, chơi đá gà, đánh bài, không lo tiếp kinh tế gia đình. Chị có khuyên can nhiều lần nhưng anh N1 không thay đổi nên vợ chồng luôn bất hòa, vợ chồng không còn hạnh phúc. Cha mẹ hai bên có hàn gắn nhưng không được.

Từ tháng 01/2020, chị đã bỏ đi về quê mẹ sinh sống, anh chị không còn chung sống với nhau nữa và đã ly thân từ đó đến nay. Trong thời gian ly thân, anh N1 không đến năn nỉ để hàn gắn vợ chồng. Nay tình cảm vợ chồng không còn, một đích hôn nhân không đạt được nên chị xin được ly hôn với anh Lâm Văn N1. Hiện tại, anh N1 đã có gia đình khác, chị cũng đã có gia đình khác.

- Về con chung: Có 01 đứa con chung, tên Lâm Văn K, sinh ngày 08/12/2017. Hiện con đang sống với ba và nội. Sau ly hôn, chị đồng ý giao con cho anh N1 tiếp tục nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

* Đối với bị đơn anh Lâm Văn N1: Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đến gia đình nhằm tạo điều kiện hòa giải đoàn tụ và hàn gắn quan hệ vợ chồng giữa hai người, nhưng anh N1 đều vắng mặt không lý do và cũng không gửi văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị N.

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn: Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn anh N1: Vắng mặt không có lý do mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ nhiều lần các văn bản tố tụng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, các đương sự cũng đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lưu Thị N, giải quyết cho chị N được ly hôn với anh Lâm Văn N1; về con chung: giao cháu K cho anh N1 tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, chị N không cấp dưỡng nuôi con do anh N1 không yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị N phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Chị Lưu Thị N và anh Lâm Văn N1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 22 tháng 02 năm 2018 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện C nên được pháp luật công nhận là vợ chồng theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Nay vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nên chị N yêu cầu ly hôn với anh N1. Anh N1 có hộ khẩu thường trú ở ấp H, xã V, huyện C, An Giang. Căn cứ theo quy định khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

- Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị N có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn anh Lâm Văn N1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh vẫn vắng mặt. Việc vắng mặt không lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan là từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình được pháp luật bảo vệ nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

Chị Lưu Thị N xác nhận cuộc sống hôn nhân thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng ba năm, đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không phù hợp nên chị N yêu cầu được ly hôn với anh N1.

Xét thấy, cuộc sống hôn nhân vợ chồng là nhằm xây dựng một gia đình thật sự hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc và quan tâm lẫn nhau nhưng quan hệ vợ chồng giữa chị N và anh N1 đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn tồn tại. Tòa án tiến hành lấy lời khai của anh N1 theo quy định, nhưng không lấy được lời khai do anh N1 vắng mặt tại nhà. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án anh N1 đều vắng mặt, đồng thời không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện ly hôn và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng mà phía nguyên đơn chị N đã trình bày, cũng như không có văn bản thể hiện ý kiến hay có nguyện vọng là muốn duy trì quan hệ hôn nhân với chị N. Mặt khác, tại Biên bản lấy lời khai ngày 21/3/2024 đối với bà Nguyễn Thị T là mẹ ruột của anh N1 thể hiện: Hiện nay chị N và anh N1 đã ly thân, cha mẹ hai bên đã cố gắng hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không thành, về quan hệ con chung phù hợp như lời trình bày của nguyên đơn. Bà T xác nhận phía anh N1 có nhận được các văn bản tố tụng của Tòa, nhưng vì bận làm ăn xa nên không đến Tòa tham dự được, theo bà T thì giữa chị N và anh N1 cũng không có khả năng đoàn tụ.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định tình trạng hôn nhân của chị N và anh N1 đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân giữa hai người không đạt được, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình nên chấp nhận yêu cầu của chị Lưu Thị N là được ly hôn với anh Lâm Văn N1.

[3] Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Chị Lưu Thị N thừa nhận giữa chị và anh Lâm Văn N1 có 01 con chung tên Lâm Văn K, sinh ngày 08/12/2017. Mặt khác, giấy khai sinh của cháu cũng đã thể hiện rõ điều này, do đó cần công nhận cháu Lâm Văn K, sinh ngày 08/12/2017 là con chung của chị N và anh N1. Hiện con đang sống với ba và nội. Sau khi ly hôn, chị N đồng ý giao cháu cho anh N1 được tiếp tục nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con. Để ổn định tâm lý và đảm bảo phát triển cuộc sống của cháu, Hội đồng xét xử cân chấp nhận yêu cầu của chị Lưu Thị N là giao cháu K cho anh N1 được tiếp tục nuôi dưỡng.

[4] Về tiền cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Lâm Văn N1 không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, tuy nhiên khi điều kiện kinh tế và điều kiện nuôi con có thay đổi thì các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con, cấp dưỡng trong một vụ kiện khác.

Chị Lưu Thị N có quyền tới lui, thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định pháp luật.

[5] Về quan hệ tài sản, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6] Về án phí sơ thẩm: Do chị Lưu Thị N có yêu cầu ly hôn với anh Lâm Văn N1 nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Điều 9, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân gia đình 2014;
  • Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 177, khoản 2 Điều 227, 228, Điều 271, Điều 273, 278, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
  • Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Lưu Thị N. Cho ly hôn giữa chị Lưu Thị N đối với anh Lâm Văn N1.
  2. Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Công nhận cháu Lâm Văn K, sinh ngày 08/12/2017 là con chung của chị Lưu Thị N và anh Lâm Văn N1;
    • + Tiếp tục giao cháu Lâm Văn K, sinh ngày 08/12/2017 cho anh Lâm Văn N1 được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi trưởng thành (hiện cháu K đang sống chung với anh N1); chị N không phải cấp dưỡng nuôi con do anh N1 không yêu cầu;
    • + Anh Lâm Văn N1 cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở chị N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung.
    • + Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
  3. Về quan hệ tài sản, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
  4. Về án phí sơ thẩm: Chị Lưu Thị N phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, đã nộp tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004423 ngày 17/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, An Giang, được khấu trừ nên chị N đã nộp xong.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Lưu Thị N và anh Lâm Văn N1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND.Châu Thành;
  • - Chi cục THADS.Châu Thành;
  • - Cơ quan nơi đăng ký kết hôn;
  • - Phòng KTNV và THA;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Hà Thị Mỹ Linh

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thành Hiệp

Nguyễn Hoàng Tiến

Hà Thị Mỹ Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2024/HNGĐ-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về tranh chấp về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 60/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Lưu Thị N. Cho ly hôn giữa chị Lưu Thị N đối với anh Lâm Văn N1. 2. Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Công nhận cháu Lâm Văn K, sinh ngày 08/12/2017 là con chung của chị Lưu Thị N và anh Lâm Văn N1; + Tiếp tục giao cháu Lâm Văn K, sinh ngày 08/12/2017 cho anh Lâm Văn N1 được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi trưởng thành (hiện cháu K đang sống chung với anh N1); chị N không phải cấp dưỡng nuôi con do anh N1 không yêu cầu; + Anh Lâm Văn N1 cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở chị N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. + Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger