Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. HẢI CHÂU

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2024/HS-ST

Ngày 23 tháng 4 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Diện.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Tùng và bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Trang - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2024, đối với:

Bị cáo Phạm Trần C - Sinh ngày 15 tháng 8 năm 1993 tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Nơi cư trú: K Đ, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T (sinh năm 1960) và bà Trần Thị Bích T1 (sinh năm 1963); gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba.

Tiền án: Tại Bản án số: 25/2020/HS-ST ngày 29.4.2020 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu xử phạt Phạm Trần C 02 năm 06 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (chưa được xóa án tích).

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 01.10.2019 bị Công an phường T xử phạt vi phạm hành chính (phạt tiền) về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố Đ từ ngày 13.6.2023, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đoàn Ngọc C1 - Sinh năm 1992. Địa chỉ: Tổ E, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Hiện đang chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở xã hội B, vắng mặt.

* Người chứng kiến: Ông Ông Văn T2 - Sinh năm 1991. Địa chỉ: C M, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 12.6.2023, Phạm Trần C liên lạc rủ Đoàn Ngọc C1 (sinh năm 1989; HKTT: Tổ E, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng) đi uống cà phê ở đường Ô, thành phố Đà Nẵng. Sau đó cả hai có nhu cầu sử dụng ma túy đá nên rủ nhau vào nhà nghỉ H trên đường T, thành phố Đà Nẵng để sử dụng ma túy do C mang đến, sau khi sử dụng xong thì ai về nhà nấy.

Đến khoảng 20 giờ 00 phút ngày 12.6.2023, C đến nhà rủ C1 đi uống cà phê và hỏi chỗ mua ma túy đá, C1 đưa số Zalo của P (chưa xác định lai lịch) cho C tự liên hệ. Chỉnh mua của P 2.500.000 đồng ma túy đá, hẹn giao dịch trên đường M, thành phố Đà Nẵng; P bỏ ma túy đá vào trong gói thuốc lá giấu ở gốc cây bên đường và chỉ cho C đến lấy rồi để tiền mua ma túy lại. Sau đó, C mang ma túy đá này về nhà cân lại thì thấy thiếu hụt nên gọi cho P để bù thêm hoặc đổi lại nhưng không liên lạc được. Đến trưa ngày 13.6.2023, C đến nhà C1 để nhờ liên lạc lại với P nhưng cũng không được nên cả hai rủ nhau đi ăn, khi đi đến đoạn đường H - T thuộc tổ A, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng thì bị Tổ tuần tra Đồn Biên phòng H1 phát hiện có biểu hiện nghi vấn nên mời về đồn thử test, kết quả C và Cường dương tính với chất ma túy trong cơ thể. Tại đây, C tự thú khai nhận có cất giấu ma túy tại nhà mình (số K đường Đ, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng) để sử dụng. Khoảng 23 giờ 40 phút ngày 13.6.2023, Đồn Biên phòng H1 tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Trần C, thu giữ tại tầng 2:

  • Trong phòng ngủ của C, phía dưới gầm giường có 01 gói nilon màu trắng, kích thước (3x3,8)cm chứa chất tinh thể rắn màu trắng, được niêm phong ký hiệu A1; bên trong đèn ngủ màu trắng có 02 gói nilon màu trắng, có chung kích thước (3x3,4)cm chứa chất tinh thể rắn màu trắng, được niêm phong ký hiệu A3;
  • Ở gian thờ, trong bình hoa màu nâu có 01 hộp giấy màu đen cam, bên trong có 02 gói nilon màu trắng kích thước (7x4)cm và (4x4,8)cm chứa chất tinh thể rắn màu trắng, được niêm phong ký hiệu A2;
  • 02 cân tiểu ly điện tử màu đen, C mua để cân ma túy; 16 túi nilon màu trắng, có chung kích thước (3x3,4)cm, C mua để chia ma túy đem đi sử dụng; 01 nỏ thủy tinh màu trắng là công cụ Chỉnh sử dụng ma túy.

Ngoài vật chứng như đã nêu trên thì còn thu giữ của Phạm Trần C 01 điện thoại di dộng hiệu Iphone màu đen, gắn thẻ sim số: 0762.547.954; số IMEI1: 353905109083942; số IMEI2: 353905109208952.

Tại Kết luận giám định số: 514/KL-KTHS ngày 19.6.2023 của Phòng K Công an thành phố Đ, kết luận: Chất tinh thể rắn màu trắng trong các gói niêm phong ký hiệu A1, A2 và A3 gửi giám định đều là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng mẫu A1: 0,379 gam; A2: 3,459 gam; A3: 0,820 gam. Tổng khối lượng: 4,658 gam. Hoàn trả đối tượng sau giám định 0,251 gam mẫu A1; 3,157 gam mẫu A2 và 0,585 gam mẫu A3 cùng toàn bộ vỏ bao gói mẫu.

Tại Bản kết luận điều tra vụ án hình sự đề nghị truy tố số: 90/KLĐT ngày 10.10.2023 và Bản kết luận điều tra bổ sung vụ án hình sự số: 20/BKL-ĐTTH ngày 08.3.2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H, thành phố Đà Nẵng đề nghị truy tố Phạm Trần C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản cáo trạng số: 108/CT-VKS ngày 26.10.2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng truy tố Phạm Trần C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Phạm Trần C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người chứng kiến đã được thông báo để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Phạm Trần C về tội danh, điều luật như Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Trần C từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di dộng hiệu Iphone màu đen, gắn thẻ sim số: 0762.547.954; số IMEI1: 353905109083942; số IMEI2: 353905109208952. T3 tịch thu và tiêu hủy: 0,251 gam mẫu A1, 3,157 gam mẫu A2, 0,585 gam mẫu A3 và toàn bộ vỏ bao gói mẫu hoàn trả sau giám định; 02 cân tiểu ly điện tử màu đen; 16 túi nilon màu trắng (kích thước 3 x 3,4 cm) và 01 nỏ thủy tinh màu trắng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Phạm Trần C đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp. Các tài liệu chứng cứ đã thu thập theo hồ sơ được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án.

[2] Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Đoàn Ngọc C1 vắng mặt nhưng hồ sơ vụ án đã thể hiện rõ lời khai và yêu cầu. Việc vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc xét xử đối với bị cáo Phạm Trần C. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

[3] Về hành vi phạm tội:

Tại phiên tòa bị cáo Phạm Trần C thừa nhận: Lúc 18 giờ 00 phút ngày 13.6.2023 tại Đồn Biên phòng H1, thành phố Đà Nẵng, Phạm Trần C đã khai nhận hành vi cất giấu ma túy tại nơi ở của mình. Đến 23 giờ 40 phút cùng ngày, Đồn Biên phòng H1 tiến hành khám xét nhà số K Đ, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng phát hiện Phạm Trần C tàng trữ trái phép 4,658 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng. Lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Trần C phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phù hợp với kết luận giám định cũng như các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, hành vi trên đây của bị cáo Phạm Trần C đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải Châu đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Bị cáo Phạm Trần C nhận thức rõ tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có ma túy để sử dụng nên vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Khung hình phạt bị cáo bị truy tố, xét xử có mức án từ 01 năm đến 05 năm tù nên hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước mà còn gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Vì vậy, cần thiết phải xử phạt bị cáo Phạm Trần C mức án tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo.

[5] Về nhân thân: Bị cáo Phạm Trần C có nhân thân xấu thể hiện ở việc đã từng bị kết án và bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 29.4.2020, bị cáo Phạm Trần C bị Tòa án nhân dân quận Hải Châu xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và chưa được xóa án tích. Như vậy, hành vi phạm tội lần này của bị cáo Phạm Trần C thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi được đưa về Đồn biên phòng H1 làm việc, bị cáo Phạm Trần C đã tự khai nhận hành vi cất giấu ma túy của mình tại nơi ở. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo Phạm Trần C đã thành khẩn khai báo. Do đó, cần áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[8] Về quyết định hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt bị cáo Phạm Trần Chỉnh hình p tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo nói riêng đồng thời cũng để răn đe, phòng chống tội phạm nói chung.

[9] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc cấm làm công việc nhất định từ một đến năm năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Do đó, bị cáo Phạm Trần C có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên nghề nghiệp của bị cáo là lao động phổ thông, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Phạm Trần C.

[10] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình. Đối với 0,251 gam mẫu A1; 3,157 gam mẫu A2; 0,585 gam mẫu A3 và toàn bộ vỏ bao gói mẫu hoàn trả sau giám định. Đây là chất cấm tàng trữ lưu hành nên tịch thu và tiêu hủy. Đối với chiếc điện thoại di dộng hiệu Iphone màu đen, gắn thẻ sim số: 0762.547.954; số IMEI1: 353905109083942; số IMEI2: 353905109208952. Đây là tài sản được bị cáo Phạm Trần C sử dụng để liên lạc mua và tàng trữ trái phép chất ma túy nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước. Đối với 02 cân tiểu ly điện tử màu đen được bị cáo Phạm Trần C sử dụng để cân kiểm tra ma túy có giá trị không đáng kể nên tịch thu và tiêu hủy cùng các vật dụng sử dụng ma túy là 16 túi nilon màu trắng (kích thước khoảng 3 x 3,4 cm) và 01 nỏ thủy tinh màu trắng.

[11] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì bị cáo Phạm Trần C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[12] Bị cáo Phạm Trần C có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an quận L đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.

[13] Đối với đối tượng tên P có hành vi bán ma túy cho bị cáo Phạm Trần C hiện chưa xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H, thành phố Đà Nẵng tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau là phù hợp.

[14] Đối với Đoàn Ngọc C1 là người đưa số điện thoại của P cho bị cáo Phạm Trần C nhưng Đoàn Ngọc C1 không biết và không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Phạm Trần C. Tuy nhiên, Đoàn Ngọc C1 đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên các cơ quan có thẩm quyền đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đoàn Ngọc C1 là đúng quy định của pháp luật.

[15] Bên cạnh hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Phạm Trần C thì theo các tài liệu, chứng cứ được thu thập tại hồ sơ vụ án còn thể hiện: Phạm Trần C đã có hành vi rủ rê, cung cấp ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy (nỏ thủy tinh), thuê địa điểm (nhà nghỉ) để cùng Đoàn Ngọc C1 sử dụng ma túy là có dấu hiệu của tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tuy nhiên, việc điều tra không chặt chẽ, không đầy đủ về nguồn gốc và chất ma túy mà bị cáo Phạm Trần C và Đoàn Ngọc C1 đã sử dụng đã gây khó khăn cho việc xử lý, không đảm bảo cho việc đấu tranh phòng chống tội phạm liên quan đến ma túy. Do đó, Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H tiếp tục đấu tranh, xác minh làm rõ hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Phạm Trần C để xử lý theo đúng quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Trần C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; các điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Trần C 03 năm 06 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 13 tháng 6 năm 2023).
  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tịch thu và tiêu hủy đối với 0,251 gam mẫu A1; 3,157 gam mẫu A2; 0,585 gam mẫu A3 cùng toàn bộ vỏ bao gói mẫu (theo 03 bì giấy niêm phong đựng mẫu hoàn trả của Phòng K - Công an thành phố Đ); 02 cân tiểu ly điện tử màu đen; 16 túi nilon màu trắng (kích thước khoảng 3 x 3,4 cm) và 01 nỏ thủy tinh màu trắng.

    Tịch thu sung công quỹ Nhà nước đối với 01 điện thoại di dộng hiệu Iphone màu đen, gắn thẻ sim số: 0762.547.954; số IMEI1: 353905109083942; số IMEI2: 353905109208952 thu giữ của bị cáo Phạm Trần C.

    Các vật chứng nêu trên hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu đang quản lý theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 14 tháng 11 năm 2023.

  4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phạm Trần C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H tiếp tục đấu tranh, xác minh làm rõ hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Phạm Trần C để xử lý theo đúng quy định của pháp luật
  6. Về quyền kháng cáo:

    Bị cáo Phạm Trần C có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt ông Đoàn Ngọc C1 tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Đà Nẵng;
  • - VKSND TP. Đà Nẵng;
  • - Sở Tư pháp TP. Đà Nẵng;
  • - VKSND quận Hải Châu;
  • - Công an quận Hải Châu;
  • - Cơ quan THA Hình sự quận Hải Châu;
  • - Chi Cục THADS quận Hải Châu;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Diện

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG về tàng trữ trái phép chất ma túy (criminal case)

  • Số bản án: 60/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Phạm Trần Chỉnh 03 năm 06 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 13 tháng 6 năm 2023).
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger