Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRÀNG ĐỊNH

TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

***

Bản án số: 60/2023/HS-ST

Ngày 20-10-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hoàng Văn Bình

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hoàng Thị Chiếu;

Ông Hoàng Quốc Bình.

Thư ký phiên toà: Ông Triệu Tuấn Bình - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Đoàn Đức Trọng - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 10 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 57/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đối với các bị cáo:

  1. Chu Văn T: Tên gọi khác: Không có; sinh ngày: 29/3/1990 tại huyện T, tỉnh Lạng Sơn; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn N, xã Q, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Chu Văn T1, sinh năm 1969; con bà: Trần Thị H, sinh năm 1972; vợ là: Trần Thị Đoan T2, sinh năm 1990; con: Có 01 con, sinh năm 2013; tiền án: Có 01 tiền án cụ thể: Tại bản án hình sự phúc thẩm số 109/2016/HSPT ngày 19/7/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt Chu Văn T 08 năm 03 tháng tù về tội Lưu hành tiền giả; tiền sự: Không có; Nhân thân: Bị cáo chưa bị xử lý hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo hiện đang bị tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Lạng Sơn từ ngày 28/6/2023 cho đến nay, có mặt.
  2. Đàm Văn H1: Tên gọi khác: Không có; sinh ngày: 13/7/1996, tại huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn H, xã Q, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đàm Văn P, sinh năm 1963; con bà: Vi Thị P1, sinh năm 1972 (đã chết); vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không có; Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 28/2015/HSST ngày 28/9/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn xử phạt Đàm Văn H1 07 tháng tù về tội Chống người thi hành công vụ theo quy định tại khoản 1 Điều 257 Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi bổ sung. Ngày 22/12/2015 H1 chấp hành xong Bản án, nên tính đến ngày phạm tội mới, H1 đã được xóa án tích theo quy định; bị cáo chưa bị xử lý hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo hiện đang bị tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Lạng Sơn từ ngày 27/6/2023 cho đến nay, có mặt.
  3. Hà Văn T3: Tên gọi khác: Không có; sinh ngày: 07/7/1989, tại huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn C, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hà Văn Đ, sinh năm 1965; Con bà: Lộc Thị T4, sinh năm 1963; vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không có; Nhân thân: Bị cáo chưa bị kết án, chưa bị xử lý hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo hiện đang bị tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Lạng Sơn từ ngày 27/6/2023 cho đến nay, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Chị Trần Thị Đoan T2, sinh năm 1990. Trú tại: thôn N, xã Q, huyện T, tỉnh Lạng Sơn, có mặt.
  2. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1978. Trú tại: thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Hồi 21 giờ 00 phút ngày 27/6/2023, tổ Công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế – Ma túy Công an huyện T phối hợp với Công an xã Q, huyện T làm nhiệm vụ tại khu vực thôn N, xã Q, huyện T, tỉnh Lạng Sơn thì phát hiện cạnh đường bê tông liên xã Q - Đ có 02 nam thanh niên ngồi cạnh xe mô tô biển kiểm soát 98H1-195.43 có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác tiến hành kiểm tra các đối tượng Đàm Văn H1 và Hà Văn T3, phát hiện trên tay trái của H1 01 xi lanh màu trắng, tay phải có 01 gói bằng giấy trắng có dòng kẻ, bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là chất ma túy Heroin. H1 và T3 khai nhận chất bột màu trắng nêu trên là chất ma túy Heroin cả hai vừa cùng nhau đi mua với Chu Văn T về để cùng nhau sử dụng. Tổ công tác đã đưa H1 và T3 cùng toàn bộ tang vật về trụ sở Công an xã Q lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ: 01 gói bằng giấy trắng có dòng kẻ, bên trong có chứa chất bột màu trắng, 01 xi lanh màu trắng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen của Đàm Văn H1; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Realme màu xám và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Waves, biển kiểm soát 98H1-195.43, màu sơn trắng đen của Hà Văn T3.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét khẩn cấp nơi ở của Chu Văn T tại thôn N, xã Q, huyện T, phát hiện và thu giữ: 01 gói bằng giấy trắng có dòng kẻ, bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là chất ma túy H2 tại túi quần bên trái Chu Văn T đang mặc; Số tiền 400.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xanh; 01 chiếc kéo bằng kim loại có cán màu vàng; 01 mảnh giấy có nhiều chữ và dòng kẻ diện 20x25cm.

Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo Chu Văn T, Đàm Văn H1 và Hà Văn T3 khai nhận:

Khoảng 14 giờ ngày 22/6/2023, Chu Văn T bắt xe khách đến khu vực thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, mua được 01 gói ma túy Heroin với giá 500.000 đồng với một người đàn ông làm nghề xe ôm (không rõ họ tên, địa chỉ). Sau khi mua được ma túy T đi về nhà, chia gói ma túy mua được thành 02 gói nhỏ để sử dụng và bán lại cho các đối tượng nghiện khác.

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 27/6/2023, Đàm Văn H1 có nhu cầu sử dụng ma túy nên dùng điện thoại có số thuê bao 0355.319.504 gọi đến số thuê bao 0345.008.607 của Chu Văn T hỏi mua 01 gói ma túy với giá 400.000 đồng và T bảo H1 kẹp tiền vào bờ rào nhà người dân thuộc thôn N, xã Q, huyện T, tỉnh Lạng Sơn, nhưng do không có phương tiện nên H1 đã gọi điện cho Hà Văn T3 bảo T3 dùng xe máy của T3 chở H1 đi ma túy về sử dụng, T3 đồng ý. Sau đó T3 sử dụng xe môtô nhãn hiệu Honda Waves, biển kiểm soát (BKS) 98H1-195.43 đến nhà đón và chở H1 đến địa điểm đã hẹn rồi H1 kẹp số tiền 400.000 đồng (gồm 02 tờ mệnh giá 200.000 đồng) vào bờ rào nhà người dân rồi H1 và T3 rời đi đến vị trí khác cách đó 30m để chờ. Khoảng 20 phút sau, Chu Văn T điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda Waves, BKS: 12T1-233.03 đi đến điểm hẹn thì thấy số tiền 400.000 đồng của H1 kẹp ở bờ rào nên đã lấy tiền và để lại 01 gói ma túy Heroin tại vị trí đã kẹp tiền, sau đó T đi về nhà. Thấy T đi khỏi, T3 điều khiển xe môtô chở H1 đến lấy gói ma túy, rồi cả hai ra cạnh đường liên xã Q - Đ cùng nhau sử dụng ma túy. Khi cả hai xuống xe để chuẩn bị sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang như đã nêu trên.

Tại bản Kết luận giám định số 727/KL-KTHS ngày 30/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận:

  1. Chất bột màu trắng có trong phong bì ghi chữ "Tang vật nghi ma túy thu giữ quả tang của Đàm Văn H1 và Hà Văn T3 ngày 27/6/2023" gửi giám định là chất ma túy Heroin, có khối lượng 0,211 gam.
  2. Chất bột màu trắng có trong phong bì ghi chữ "Tang vật nghi ma túy thu giữ đối với Chu Văn T ngày 27/6/2023" gửi giám định là chất ma túy Heroin, có khối lượng là 0,075 gam.

Tại bản Kết luận giám định số 746/KL-KTHS ngày 04/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: Toàn bộ số tiền Việt Nam có trong phong bì được niêm phong dán kín, mặt trước phong bì ghi "400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) thu giữ của Chu Văn T ngày 27/6/2023" gửi giám định là tiền thật.

Cáo trạng số: 56/CT-VKSTĐ ngày 29 tháng 9 năm 2023 truy tố các bị cáo: Chu Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Đàm Văn H1 và Hà Văn T3 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi như Cáo trạng đã nêu.

Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các tài liệu có trong vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố về tội danh như Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt chính:

Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 đề nghị xử phạt bị cáo Chu Văn T từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s, khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt Đàm Văn H1 từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy"

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s, khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt Hà Văn T3 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy"

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với tất cả các bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 0,195 gam Heroin và vỏ bao cũ đựng trong gói giấy thu giữ của Đàm Văn H1 và Hà Văn T3, trong bì thư niêm phong theo quy định; 0,041 gam Heroin và vỏ bao cũ đựng trong gói giấy thu giữ của Chu Văn T, trong bì thư niêm phong theo quy định; 01 chiếc kéo kim loại có cán mầu vàng; 01 mảnh giấy có nhiều chữ và dòng kẻ diện 20x25cm; 01 xi lanh đã qua sử dụng. Tịch thu sung quỹ nhà nước: Số tiền 400.000 đồng thu giữ của Chu Văn T, đựng trong bì thư niêm phong theo quy định; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, lắp sim có số thuê bao 0355319504 đã qua sử dụng của Đàm Văn H1; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Realme màu xám, lắp sim có số thuê bao: 0399562924, đã qua sử dụng của Hà Văn T3; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xanh, lắp sim có số thuê bao 0345008607 của Đàm Văn H1.

Trả cho chị Trần Thị Đoan T2 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Waves, BKS: 12T1-233.03; Trả cho Hà Văn T3 chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Waves, biển kiểm soát (BKS) 98H1-195.43 kèm giấy chứng nhận đăng ký xe. Các vấn đề khác đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phần tranh luận các bị cáo không có ý kiến gì tranh luận. Lời nói sau cùng của các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo yên tâm cải tạo sớm được trở về đoàn tụ cùng gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về việc vắng mặt của bà Nguyễn Thị L. Hội đồng xét xử thấy bà L đã có lời khai được lưu giữ trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của bà L không ảnh hưởng gì đến quá trình giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án.

[3] Về hành vi phạm tội: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa đủ cơ sở kết luận: Do có nhu cầu sử dụng chất ma túy nên Đàm Văn H1 và Hà Văn T3 bàn bạc cùng nhau mua ma túy về cùng nhau sử dụng. Theo đó H1 là người bỏ tiền ra và trực tiếp liên hệ với Chu Văn T để mua ma túy, còn Hà Văn T3 là người sử dụng xe mô tô của T3 chở H1 đi mua ma túy. Đến khoảng 21 giờ 00 phút ngày 27/6/2023, T3 điều khiển xe mô tô BKS 98H1-195.43 chở H1 đến thôn N, xã Q, huyện T, tỉnh Lạng Sơn mua 01 gói ma túy giá 400.000 đồng với Chu Văn T. Sau khi mua được ma túy, Đàm Văn H1 và Hà Văn T3 cùng nhau sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang. Khối lượng tàng trữ trái phép chất ma túy Heroin của Đàm Văn H1, Hà Văn T3 có khối lượng 0,211 gam (đã trừ bì). Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Chu Văn T phát hiện thu giữ 01 gói ma túy Heroin có khối lượng 0,075 gam (đã trừ bì). Như vậy Chu Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Đàm Văn H1 và Hà Văn T3 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[4] Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Bị cáo Chu Văn T thực hiện hành vi phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy với vai trò độc lập; Đàm Văn H1 và Hà Văn T3 đồng phạm với nhau về hành vi tàng trữ trái pháp chất ma túy, nhưng có vai trò ngang nhau trong việc thực hiện hành vi phạm tội.

[5] Về tính chất, hậu quả mức độ của hành vi phạm tội: Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức được hành vi của mình nhưng các bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội; ảnh hưởng đến đạo đức, thuần phong mỹ tục lâu đời của dân tộc là nguy cơ tiềm ẩn phát sinh các loại tội phạm mới, làm tăng ngân sách nhà nước để giải quyết các hậu quả do ma túy mang lại. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt ngoài việc xem xét tính chất, mức độ hành vi của việc phạm tội còn phải xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt mới tương xứng với hành vi mà các bị cáo gây ra.

[6] Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân xấu, vì các bị cáo đều là đối tượng nghiện ma túy; các bị cáo Chu Văn T; Đàm Văn H1 đã từng bị kết án.

[7] Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Chu Văn T có tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự do đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt Chu Văn T 08 năm 03 tháng tù về tội Lưu hành tiền giả tại bản án hình sự phúc thẩm số 109/2016/HSPT ngày 19/7/2016 nhưng chưa được xóa án tích. Các bị cáo Đàm Văn H1; Hà Văn T3 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

[8] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự.

[9] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo do các bị cáo không có tài sản riêng và thu nhập ổn định.

[10] Đối với người đàn ông làm nghề xe ôm đã bán ma túy cho Chu Văn T tại khu vực thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, do không xác định được tên, tuổi địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xác minh làm rõ.

[11] Về xử lý vật chứng: Đối với 0,195 gam Heroin và vỏ bao cũ đựng trong gói giấy trong bì thư niêm phong theo quy định; 0,041 gam Heroin và vỏ bao cũ đựng trong gói giấy trong bì thư niêm phong theo quy định là vật cấm lưu hành; 01 chiếc kéo kim loại có cán mầu vàng; 01 mảnh giấy có nhiều chữ và dòng kẻ diện 20x25cm; 01 xi lanh đã qua sử dụng là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy. Đối với số tiền 400.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, lắp sim có số thuê bao 0355319504; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Realme màu xám; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia là tang vật phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Waves, BKS: 12T1-233.03 thu được của Chu Văn T quá trình điều tra xác định chiếc xe này là tài sản hợp pháp của chị Trần Thị Đoan T2 và chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Waves, biển kiểm soát (BKS) 98H1-195.43 thu được của Hà Văn T3 quá trình điều tra xác định chiếc xe là của chị Nguyễn Thị L nhưng đã bán cho Hà Văn T3 và chị Nguyễn Thị L không có ý kiến hoặc yêu cầu gì đối với chiếc xe này nên xác định Hà Văn T3 là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe, và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe không liên quan đến việc phạm tội nên trả cho các chủ sở hữu.

[12] Những gì khác với nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử đều không được chấp nhận.

[13] Từ những phân tích nêu trên Hội đồng xét xử nhận thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định cho các bị cáo đi cải tạo tập trung để các bị cáo nhận thức được hành vi của mình, đồng thời giáo dục các bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[14] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo khoản 2 Điều 135, khoản 2, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

[15] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Chu Văn T;

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với Đàm Văn H1;

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với Hà Văn T3;

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106; khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án đối với tất cả các bị cáo.

  1. Về tội danh:
    1. Tuyên bố bị cáo Chu Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
    2. Tuyên bố các bị cáo Đàm Văn H1 và Hà Văn T3 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt:
    1. Xử phạt bị cáo Chu Văn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/6/2023.
    2. Xử phạt Đàm Văn H1 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/6/2023.
    3. Xử phạt Hà Văn T3 16 (mười sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/6/2023.
  3. Về vật chứng:
    1. Tịch thu tiêu hủy: 0,195 gam Heroin và vỏ bao cũ đựng trong gói giấy trong bì thư niêm phòng theo quy định; 0,041 gam Heroin và vỏ bao cũ đựng trong gói giấy trong bì thư niêm phòng theo quy định; 01 chiếc kéo kim loại có cán mầu vàng; 01 mảnh giấy có nhiều chữ và dòng kẻ diện 20x25cm; 01 xi lanh đã qua sử dụng.
    2. Tịch thu sung quỹ nhà nước: Số tiền 400.000 đồng thu giữ của Chu Văn T đựng trong bì thư niêm phong theo quy định; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, số seri: 359750040873348, lắp sim có số thuê bao 0355319504, đã qua sử dụng của Đàm Văn H1; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Realme màu xám, số IMEI: 869150056014718, lắp sim có số thuê bao: 0399562924, đã qua sử dụng của Hà Văn T3; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xanh, số IMEI: 355522055282101, lắp sim có số thuê bao 0345008607 của Chu Văn T.
    3. Trả cho chủ sở hữu:
      1. Trả cho chị Trần Thị Đoan T2 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Waves, BKS: 12T1-233.03.
      2. Trả cho Hà Văn T3 chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Waves, biển kiểm soát (BKS) 98H1-195.43 kèm giấy chứng nhận đăng ký xe

      (Vật chứng nêu trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02 tháng 10 năm 2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn).

  4. Về án phí:
  5. Buộc các bị cáo mỗi người phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách nhà nước.

  6. Quyền kháng cáo:
  7. Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định./

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND huyện Tràng Định;
  • - CQ Điều tra CA huyện Tràng Định;
  • - CQ THAHS huyện Tràng Định;
  • - Ủy ban nhân dân xã Quốc Việt;
  • - Ủy ban nhân dân xã Đào Viên;
  • - Bị cáo; Người có QLNVLQ.
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Hoàng Văn Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2023/HS-ST ngày 20/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 60/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/10/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chu Văn T và đồng phạm phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger