TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 60/2024/HS-ST
Ngày: 19-9-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương Quỳnh.
Các hội thẩm nhân dân: - Ông Bùi Khắc Thái.
- Bà Nguyễn Thị Phương Thiệu
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng - Thư ký Toà án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Phạm Công Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 56/2024/TLST- HS ngày 22 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Hoàng Xuân V, sinh năm 1990 tại huyện N, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: Thôn 2 H, xã Th, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12;Con ông Hoàng Văn Q và bà Đinh Thị H; Bị cáo có vợ là Đinh Thị Phương Th (đã ly hôn); Có 01 con sinh năm 2017; Tiền án (01): Ngày 04/8/2022 bị Tòa án nhân dân huyện N xử phạt 21 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, bị cáo chấp hành xong bản án ngày 30/10/2023; Tiền sự: Không. Về nhân thân (2): Ngày 29/5/2017, bị Công an phường Thanh Bình, thành phố Ninh Bình xử phạt vi phạm hành chính số 105 (phạt cảnh cáo) về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngày 18/01/2019, bị Tòa án nhân dân huyện N ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 07 với thời hạn 18 tháng - Hoàng Xuân V chấp hành xong quyết định ngày 21/7/2020. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/6/2024 đến ngày 05/7/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình. (có mặt).
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Hoàng Xuân V1sinh năm 1986; Địa chỉ: Thôn 2 H, xã Th, huyện N, tỉnh Ninh Bình. (có mặt)
* Người làm chứng: Anh Trương Hồng S sinh năm 1992, ông Nguyễn Xuân Th sinh năm 1963, ông Đinh Văn T sinh năm 1963(vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hoàng Xuân Vlà đối tượng sử dụng ma túy; trưa ngày 27/6/2024, Vđiều khiển xe mô tô biển kiểm soát 35N7-1524 đi từ nhà ở xã Th, huyện N đến huyện Gia Viễn để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Khi đến khu vực đường đê thuộc địa phận huyện Gia Viễn; Vgặp một người nam giới không quen biết trông giống người nghiện nên hỏi “Anh có ma túy không, bán cho em bẩy trăm”, người nam giới trả lời “Có, đưa tiền đây”. Vlấy 700.000 đồng đưa cho người nam giới, người này cầm tiền và đưa cho V01 túi ni lông mầu trắng có viền mầu đỏ bên trong có 07 gói nhỏ trong đó có 06 gói nhỏ đều được gói ngoài bằng giấy mầu trắng, 01 gói nhỏ được gói bằng giấy nhiều mầu sắc. Vmở ra kiểm tra thấy bên trong cả 07 gói đều chứa chất bột dạng cục mầu trắng, xác định là heroine nên Vđã gói lại và bỏ vào túi quần phía bên trái đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi về xã Th tìm nơi sử dụng, còn người đàn ông bán ma túy cho Vcũng bỏ đi luôn. Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, khi Hoàng Xuân V đang ngồi trên yên xe mô tô biển kiểm soát 35N7-1524 dựng bên mé đường đê Năm Căn thuộc địa phận thôn Bè Mật, xã Th, huyện N thì gặp Tổ tuần tra Công an huyện N phối hợp với Công an xã Th. Thấy có biểu hiện nghi vấn nên Tổ tuần tra yêu cầu Vxuống xe để kiểm tra. Do biết không thể che giấu việc cất giấu ma túy nên Vkhai nhận bản thân có cất giấu trong người 07 gói ma túy loại heroin để sử dụng cho bản thân. Tổ tuần tra đã kiểm tra và thu giữ tại túi quần phía trước bên trái của Vcó 01 túi ni lông mầu trắng có gờ mép mầu đỏ bên trong túi có 07 gói nhỏ (gồm 06 gói nhỏ đều được gói ngoài bằng giấy mầu trắng bên trong đều có chất bột dạng cục mầu trắng, 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy nhiều mầu sắc bên trong có chất bột mầu trắng). Tổ tuần tra đã tiến hành niêm phong 01 túi ni lông bên trong có 07 túi nhỏ có đặc điểm nêu trên theo quy định pháp luật, ký hiệu A1; thu giữ của V01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO mầu đen, không có sim điện thoại đã qua sử dụng, ký hiệu A2 và xe mô tô biển kiểm soát 35N7-1524. Sau đó, Tổ tuần tra đã đưa Vcùng toàn bộ vật chứng thu giữ về tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Th lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N tiến hành cân số lượng 07 túi ni lông có chứa chất bột mầu trắng để quyết định trưng cầu. Cụ thể: túi 01 có khối lượng 0,03 gam (ký hiệu M1), túi 02 có khối lượng 0,06 gam (ký hiệu M2), túi 03 có khối lượng 0,09 gam (ký hiệu M3), túi 04 có khối lượng 0,04 gam (ký hiệu M4), túi 05 có khối lượng 0,03 gam (ký hiệu M5), túi 06 có khối lượng 0,05 gam (ký hiệu M6), túi 07 có khối lượng 0,04 gam (ký hiệu M7).
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N ra quyết định trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Ninh Bình giám định chất ma túy và khối lượng ma túy đối với chất bột dạng cục màu trắng trong 07 gói nhỏ gói thu giữ của Hoàng Xuân V, ký hiệu M1, M2, M3, M4, M5, M6, M7, để làm căn cứ xử lý theo quy định.
Tại bản Kết luận giám định số 599/KL-KTHS-MT ngày 04/7/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình, kết luận:
“- Mẫu gửi giám định ký hiệu M1 đến M7 có khối lượng như sau:
| Ký hiệu | M1 | M2 | M3 | M4 | M5 | M6 | M7 |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Khối lượng (gam) | 0,0340 | 0,0565 | 0,0883 | 0,0391 | 0,0312 | 0,0473 | 0,0462 |
Tổng khối lượng bẩy gói ký hiệu từ M1 đến M7 là 0,3426 gam.
- Mẫu gửi giám định ký hiệu từ M1 đến M7 đều là ma túy, loại Heroine (heroin).
Heroine (heroin) có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và là chất ma túy được quy định tại Danh mục 1A, số thứ tự 9; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.”
Tại bản cáo trạng số 58/CT-VKSNQ-HS ngày 20 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện N để xét xử bị cáo Hoàng Xuân V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N vẫn giữ nguyên cáo trạng đã truy tố bị cáo và đề nghị:
* Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Xuân V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
* Về điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đề nghị: Xử phạt bị cáo Hoàng Xuân V từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 27/6/2024.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị:
Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại ký hiệu M2 có khối lượng 0,0,180 gam, ký hiệu M3 có khối lượng 0,0111 gam, đều là ma túy, loại heroin cùng toàn bộ vỏ túi ni lông, các phong bì vỏ gói niêm phong.
* Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật là 200.000đ.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N. Lời nói sau cùng của bị cáo biết lỗi về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi của các bị cáo: Hoàng Xuân V là người dùng ma túy, hiện đang có 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 27/6/2024 Hoàng Xuân Viễn đã có hành vi tàng trữ trái phép 0.3462 gam ma túy, loại Heroin nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, bị lực lượng Công an phát hiện và bắt quả tang tại khu vực thôn Bè Mật, xã Th, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được việc mua bán, tàng trữ, sử dụng ma túy trái phép là vi phạm pháp luật, tuy nhiên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi tàng trữ ma túy trái phép của bị cáo Mạnh đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, tính chất vụ án là nghiêm trọng. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Điều 249: Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu có liên quan khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật cần chấp nhận.
[3]. Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích nhưng tiếp tục phạm tội mới, thuộc trường hợp Tái phạm nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo đã từng bị xét xử bằng bản án chưa được xóa án tích, bị xử phạt hành chính bằng các biện pháp khác nhau vì vậy bị coi là có nhân thân xấu.
[4] Về hình phạt: Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên cần phải xử phạt nghiêm minh, buộc bị cáo phải chịu hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục cải tạo bị cáo, đồng thời đảm bảo tác dụng răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma túy nhằm mục đích sử dụng nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền với bị cáo.
[5]. Trong vụ án này quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ của người đã bán ma túy cho Đinh Văn Mạnh nên không có căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.
[6]. Về xử lý vật chứng và áp dụng các biện pháp tư pháp khác:
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO mầu đen và xe mô tô biển kiểm soát 35N7-1524 thu giữ của Hoàng Xuân V. Quá trình điều tra xác định, chiếc điện thoại là tài sản của Vkhông sử dụng vào việc phạm tội, còn chiếc xe mô tô trên là tài sản hợp pháp của anh Hoàng Xuân V1sinh năm 1986, trú tại Thôn 2 H, xã Th, huyện N (là anh trai của Viển), việc Vlấy xe ô tô đi mua và cất giấu ma túy để sử dụng cho bản thân, anh Vinh không biết. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trả lại chiếc điện thoại và chiếc xe ô tô trên cho anh Hoàng Xuân V1(là người đại diện theo ủy quyền để nhận điện thoại).
Đối với số ma túy còn lại và toàn bộ túi ni lông, vỏ gói phong bì niêm phong, đây là vật Nhà nước cấm lưu hành và các đồ vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
[7]. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Hoàng Xuân V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Xuân V 27 (hai mươi bẩy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 27/6/2024.
3. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 phong bì thư niêm phong theo quy định của pháp luật bên trong là mẫu hoàn trả hoàn trả theo kết luận giám định số 599/KL-KTHS-MT ngày 04/7/2024 bên trong mẫu ký hiệu M2 có khối lượng 0,0180 gam, ký hiệu M3 có khối lượng 0,0111 gam, đều là ma túy, loại heroin; vỏ túi ni lông ký hiệu M1, M4, M5, M6, M7 và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong.
- 01 phong bì thư niêm phong theo đúng quy định pháp luật bên trong có 01 vỏ phong bì thư ký hiệu A2. Vụ tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra ngày 27/6/2024 tại thôn Bè Mật, xã Th, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Đối tượng Hoàng Xuân V.
- 01 phong bì niêm phong theo quy định của pháp luật bên trong là toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong ban đầu. Vụ tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra ngày 27/6/2024 tại thôn Bè Mật, xã Th, huyện N, tỉnh Ninh Bình.
(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện N).
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (đã ký) Nguyễn Thị Hương Quỳnh |
- 6 -
Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 19/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N - TỈNH NINH BÌNH về hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 60/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N - TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BẢN ÁN 60
