TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 60/2024/HS-ST Ngày: 19–9 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Trần Vinh Thắng. |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Văn Sơn; |
| Ông Trần Hoàng Bảy. |
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hiến-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Trương Trung Hiếu-Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 52/2024/TLST-HS, ngày 04 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2024/QĐXXST-HS, ngày 05 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo:
Ông Trần Thanh T, sinh ngày 23/02/1996, tại huyện K; Nơi cư trú: Ấp H, xã X, huyện K, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Mua bán; Trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn P và bà Nguyễn Thị Thắm N; Bị cáo có vợ là Dương Thị Diệu M và hai người con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2022; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 27/3/2024, bị Công an xã X, huyện K xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi vi phạm hành chính sử dụng rượu, bia gây mất trật tự công cộng, theo Quyết định số 23/QĐ-XPHC (chưa được xóa); Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/6/2024 đến nay, bị cáo có mặt.
Ông Nguyễn Văn T1 (T2), sinh ngày 01/01/1989, tại huyện K; Nơi cư trú: Ấp H, xã X, huyện K, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S và bà Lê Thị N1; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền sự: Không;
- -Tiền án: 03
- + Ngày 21/02/2008, bị Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng tuyên phạt 05 năm tù về Tội cướp tài sản, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 18/HSPT/2008, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt, chưa xoá án tích.
- + Ngày 13/12/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Kế Sách tuyên phạt 01 năm tù giam về hành vi Trộm cắp tài sản, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 53/2012/HSST, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt, chưa xoá án tích.
- + Ngày 18/3/2015, bị Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xử phạt 11 năm tù về các tội “Hiếp dâm” và “Trộm cắp tài sản”, tại Bản án hình sự phúc thẩm số 20/2015/HSPT, bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 29/7/2023, chưa được xóa án tích.
Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 15/6/2024 đến nay, bị cáo có mặt.
*Người làm chứng:
Ông Trần Bé N2, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Ấp H, xã X, huyện K, tỉnh Sóc Trăng; Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện K, tỉnh Sóc Trăng (trong vụ án khác), vắng mặt.
Bà Nguyễn Thị Diễm H, sinh ngày 01/01/1996, có mặt.
Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1991, vắng mặt.
Cùng cư trú: Ấp H, xã X, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.
*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị Thắm N, sinh ngày 01/01/1973, cư trú tại: Ấp H, xã X, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 05/4/2024, tại nhà của chị Nguyễn Thị Y P1, ở ấp H, xã X, huyện K tỉnh Sóc Trăng (nhà bỏ trống không có người ở), bị cáo Nguyễn Văn T1 là anh ruột của chị P1 tổ chức uống rượu cùng với bị cáo Trần Thanh T, anh Nguyễn Văn C và ông Trần Bé N2, ngụ cùng ấp. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, T rủ T1 đánh bài binh 06 lá ăn thua bằng tiền, thì T1 đồng ý và lấy bộ bài (loại bài tây 52 lá) có trong nhà chị P1 ra chơi. Do cả T1 và T không ai có tiền mặt trong người, nên chơi đánh bài ăn thua bằng tiền đặt bằng miệng với nhau, đặt bao nhiêu thì nói ra số tiền, khi ăn thua thì tự nhớ số tiền cộng dồn hoặc trừ ra, khi chơi T làm cái chia bài cho T1 đặt tiền, sau một lúc chơi không xác định được số bàn, T1 và T tổng kết lại xác định được T1 đã thua Tươi số tiền 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng).
Lúc này, T1 và T tiếp tục đánh bài ăn thua bằng tiền với nhau, T1 làm cái cho T đặt tiền, kết quả T1 làm cái ăn lại số tiền 8.000.000 đồng mà T1 đã thua T. T1 tiếp tục làm cái và thắng Tươi thêm số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), thì T1 nghỉ chơi. Sau đó, T1 kêu Tươi trả số tiền 5.000.000 đồng đánh bài thua, nhưng T không có tiền để trả, nên T1 kêu T giao chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, Biển số 83C1-201.77, của bà Nguyễn Thị Thắm N, mẹ ruột của T, để lại cho T1 quản lý, khi nào T trả cho T1 số tiền 5.000.000 đồng, thì lấy chiếc xe về, T đồng ý. Sau đó, khi về đến nhà, T nhớ lại việc T1 kêu để xe lại, nên T quay lại nhà chị P1 để cự cải với T1, thì được mọi người can ngăn và trình báo Công an xã X nội dung sự việc.
- Tại bản Cáo trạng số 59/CT-VKS-H.KS, ngày 03/9/2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng để xét xử bị cáo Trần Thanh T về tội “Đánh bạc”, theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015; bị cáo Nguyễn Văn T1 về tội “Đánh bạc”, theo điểm d khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa:
- -Các bị cáo T và T1 đều thừa nhận hành vi đánh bạc như nội dung cáo trạng đã truy tố và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
- -Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tóm tắt lại hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân, sau khi luận tội, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Tuyên bố hai bị cáo T và T1 đều phạm tội Đánh bạc.
- + Áp dụng khoản 1 Điều 321, các điểm s, i khoản 1 và khoản 2 Điều 51, các điều 17, 38, 54 và 58 của của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo T, xử phạt bị cáo T từ 03 tháng đến 05 tháng tù.
- + Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, các điều 17, 38 và 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo T1, xử phạt bị cáo T1 từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Áp dụng Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 tổng hợp với hình phạt 01 năm 06 tháng tù, theo Bản án số 37/2024/HS-ST, ngày 20/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng đã xét xử bị cáo về tội trộm cắp tài sản, buộc bị cáo T1 phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án theo quy định của pháp luật.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện K, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng; Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, người làm chứng ông Trần Bé N2 và ông Nguyễn Văn C vắng mặt không rõ lý do, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Xét thấy, trong quá trình điều tra, người làm chứng này đã có lời khai rõ ràng về các tình tiết của vụ án và việc vắng mặt không làm ảnh hưởng, không gây trở ngại đến việc giải quyết vụ án, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 293 và khoản 3 Điều 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Thanh T và Nguyễn Văn T1 đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Xét thấy, lời nhận tội của các bị cáo là phù hợp với lời khai trước đây tại Cơ quan Điều tra, hoàn toàn phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, biên bản đối chất, lời khai của người làm chứng và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Ngoài ra, sự thật vụ án còn được chứng minh qua các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan Điều tra đã thu thập được.
[4] Như vậy, đã có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 05/4/2024, tại ấp H, xã X, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, các bị cáo Trần Thanh T và Nguyễn Văn T1 đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức bài binh 06 lá, ăn thua bằng tiền trái phép, với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 13.000.000 đồng.
[5] Hành vi của bị cáo Trần Thanh T đã phạm vào tội “Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Đối bị cáo Nguyễn Văn T1 đã có 03 tiền án chưa được xóa án tích, mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, nên đã phạm tội “Đánh bạc”, theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, với tình tiết định khung tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm”.
[6] Hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự, nếp sống văn minh của xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều tội phạm khác, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra.
[7] Về tình tiết tăng nặng: Không.
[8] Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; còn bị cáo T1 không biết chữ, nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015; còn bị cáo T được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
[9] Về hình phạt:
- [9.1] Bị cáo T phạm tội “Đánh bạc”, theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, có khung hình phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy rằng cần phải xử phạt tù bị cáo ở mức phù hợp, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt, đồng thời cũng răn đe, phòng ngừa chung.
- [9.2] Bị cáo T1 phạm tội “Đánh bạc”, theo điểm d khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, có khung hình phạt tù từ 03 năm đến 07 năm. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy rằng cần phải xử phạt tù bị cáo T1 với mức cao hơn nhiều so với bị cáo T, vì bị cáo T1 có nhân thân rất xấu, 03 tiền án chưa xóa án tích. Đồng thời áp dụng Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015, tổng hợp với hình phạt 01 năm 06 tháng tù, theo Bản án số 37/2024/HS-ST, ngày 20/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, đã xét xử bị cáo về tội trộm cắp tài sản, buộc bị cáo T1 chấp hành hình phạt chung của hai bản án theo quy định.
[10] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Tịch thu, tiêu hủy 01 (Một) bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng.
[11] Về án phí: Buộc các bị cáo T và T1 mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[12] Đề nghị của Kiểm Sát viên tại phiên tòa sơ thẩm về tội danh, khung hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Trần Thanh T và Nguyễn Văn T1 phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, các điểm s và i khoản 1 và khoản 2 Điều 51, các điều 17, 38 và 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Trần Thanh T; Xử phạt bị cáo T 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.
Áp dụng: Điểm d khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, các điều 17, 38, 56 và 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Văn T1; Xử phạt bị cáo T1 05 (Năm) năm tù. Tổng hợp với hình phạt 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2024/HS-ST, ngày 20/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng; Buộc bị cáo T1 chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 06 (Sáu) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15 tháng 6 năm 2024.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) bộ bài tây 52 lá, đã qua sử dụng.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo T1 bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo bản án: Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Trần Vinh Thắng |
Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG về hình sự sơ thẩm (tội đánh bạc)
- Số bản án: 60/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
