Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2024/HNGĐ-ST

Ngày 18-9-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hà Thị Nga

Bà Nguyễn Thị Bích Lý

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Ngọc Trâm - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Bùi Tuấn Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 92/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2024 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 753/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 883/2024/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Ngọc Quỳnh T; nơi cư trú: Số D Miếu H, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Anh Phạm Quang A; nơi cư trú: Số D Miếu H, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Phạm Ngọc Quỳnh T trình bày:

Chị và anh Phạm Quang A kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được sự đồng ý của hai bên gia đình, đám cưới tổ chức theo phong tục Việt Nam. Anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường D, quận L, thành phố Hải Phòng ngày 13/10/2014. Quá trình chung sống anh chị hạnh phúc đến năm 2018 phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, cách sống dẫn đến vợ chồng thường xảy ra cãi vã. Anh chị đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả mà mâu thuẫn ngày càng trở lên trầm trọng. Anh chị đã sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai, kinh tế riêng biệt. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, sống chung không có hạnh phúc, đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Quang A.

- Về con chung: Anh chị có hai con chung là Phạm Ngọc Diệp A1, sinh ngày 23/6/2015 và Phạm Ngọc Vy A2, sinh ngày 15/6/2017. Ly hôn chị đề nghị Tòa án giao con Phạm Ngọc D Anh cho anh Quang Anh n, giao con Phạm Ngọc Vy A2 cho chị nuôi. Việc cấp dưỡng nuôi con anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn anh Phạm Quang A vắng mặt tại phiên tòa và cũng không có bản tự khai thể hiện quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án. Trong suốt quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn anh Phạm Quang A cũng như tống đạt các văn bản của Tòa án: Thông báo thụ lý vụ án, giấy mời, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho anh Quang A nhưng tại các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải anh Quang A đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên toà, chị T giữ nguyên yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Quang A.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đúng, bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ, tham gia phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và đề nghị Hội đồng xét xử, xử: Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Ngọc Quỳnh T được ly hôn anh Phạm Quang A. Về con chung: Giao con chung là Phạm Ngọc Diệp A1, sinh ngày 23/6/2015 cho anh Quang Anh n, giao con Phạm Ngọc Vy A2, sinh ngày 15/6/2017 cho chị T nuôi. Việc cấp dưỡng nuôi con anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Chị T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng dân sự:

  1. Chị T xin ly hôn anh Quang A là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn anh Phạm Quang A cư trú trên địa bàn quận L nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Lê Chân theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Tại phiên tòa, bị đơn anh Phạm Quang A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

- Về nội dung:

+ Về quan hệ hôn nhân:

  1. Chị Phạm Ngọc Quỳnh T và anh Phạm Quang A kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được sự đồng ý của hai bên gia đình, đám cưới tổ chức theo phong tục Việt Nam. Anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường D, quận L, thành phố Hải Phòng ngày 13/10/2014. Vì vậy, hôn nhân giữa chị T và anh Quang A là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Quá trình chung sống anh chị hòa thuận đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, cách sống dẫn đến vợ chồng thường xảy ra cãi vã. Toà án đã tiến hành hoà giải 02 lần nhưng anh Quang A đều vắng mặt thể hiện không thiện chí kết hợp với Toà án để hoà giải việc đoàn tụ gia đình.
  2. Qua xác minh, thu thập chứng cứ thể hiện nguyên nhân mâu thuẫn chính là do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm dẫn đến việc vợ chồng cãi vã, không hòa thuận. Hai bên gia đình đã khuyên ngăn hòa giải nhưng không có kết quả mà mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở lên trầm trọng. Anh chị đã sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai kinh tế riêng biệt. Xét mâu thuẫn giữa chị T và anh Quang A đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh Quang A.

+ Về con chung:

  1. Chị Phạm Ngọc Quỳnh T và anh Phạm Quang A có hai chung Phạm Ngọc Diệp A1, sinh ngày 23/6/2015 và Phạm Ngọc Vy A2, sinh ngày 15/6/2017. Ly hôn chị T đề nghị giao con Phạm Ngọc D Anh cho anh Quang Anh n, giao con Phạm Ngọc Vy A2 cho chị T nuôi. Hội đồng xét xử xét thấy anh Quang A vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên không có ý kiến về việc nuôi con, chị T đề nghị mỗi người nuôi một con vì từ khi ly thân cháu Diệp A1 ở cùng với bố và cháu cũng có nguyện vọng ở cùng với bố, cháu Vy A2 cùng với mẹ và cháu có nguyện vọng ở với mẹ. Vì vậy, cần áp dụng các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận giao con chung con Phạm Ngọc D Anh cho anh Quang Anh n, giao con Phạm Ngọc Vy A2 cho chị T nuôi. Việc cấp dưỡng nuôi con anh chị tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.

+ Về tài sản chung:

  1. Chị Phạm Ngọc Quỳnh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.

- Về án phí:

  1. Chị Phạm Ngọc Quỳnh T phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo:

  1. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Ngọc Quỳnh T được ly hôn anh Phạm Quang A.
  • - Về con chung: Giao con chung Phạm Ngọc Diệp A1, sinh ngày 23/6/2015 cho anh Phạm Quang A trực tiếp nuôi, giao con chung Phạm Ngọc Vy A2, sinh ngày 15/6/2017 cho chị Phạm Ngọc Q T trực tiếp nuôi đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
  • - Về tài sản chung: Chị Phạm Ngọc Quỳnh T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.
  • - Về án phí: Chị Phạm Ngọc Quỳnh T phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0003278 ngày 22/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Chị Phạm Ngọc Quỳnh T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo đối với bản án: Chị Phạm Ngọc Quỳnh T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Phạm Quang A được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - Chi cục THADS quận Lê Chân;
  • - UBND phường Dư Hàng Kênh, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng (ĐKKH ngày 13/10/2014);
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2024/HNGĐ-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 60/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tr-A
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger