Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH BẾN TRE

Bản án số: 60/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 18-7-2024

V/v ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Trâm
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tống Nê
  • Bà Đinh Thị Thanh Giang
  • Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Ngọc Sơn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Phan Thanh Việt – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 228/2024/TLST- HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2024/QĐXX-ST ngày 03 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1977. Địa chỉ: Ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre.
  • - Bị đơn: Anh Hồ Minh T, sinh năm 1978. Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải trong quá trình tố tụng tại Tòa án và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Hồ Minh T tự nguyện kết hôn vào năm 2001, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre vào ngày 09/8/2001. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng có bất đồng về quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hợp nhau, chị không còn tình cảm với anh T. Mặc dù chị và anh T sống chung nhà tại địa chỉ ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre nhưng chị và anh T đã sống ly thân hơn 02 năm nay. Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T. Chị không yêu cầu anh T xem xét đến việc cấp dưỡng cho nhau sau khi ly hôn.

Về con chung: Có 01 con chung tên Hồ Nguyễn Tường V, sinh ngày 05/8/2010 hiện đang sống với chung với chị và anh T. Sau khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Hiện tại, chị làm công nhân may, thu nhập mỗi tháng khoảng 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).

Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải, tại Tòa án và tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn anh Hồ Minh T trình bày:

Về hôn nhân: Anh thống nhất với phần trình bày của chị L về thời gian kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc thời gian đầu, vợ chồng chỉ xảy ra bất đồng quan điểm khoảng 1 năm mấy nay. Nguyên nhân là do anh và chị L ai cũng bận đi làm nên cũng ít tâm sự với nhau nhưng vợ chồng không có xảy ra cự cãi gì lớn tiếng với nhau. Anh thừa nhận hiện tại anh và chị L vẫn còn sống chung nhà nhưng vợ chồng sống ly thân hơn 01 năm nay. Nay chị L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì anh không đồng ý vì anh còn thương vợ và con. Anh muốn vợ chồng hàn gắn tình cảm với nhau nhưng hiện tại anh cũng không có phương án nào để hàn gắn tình cảm. Nếu Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L thì anh không yêu cầu chị L xem xét đến việc cấp dưỡng cho nhau sau khi ly hôn.

Về con chung: Có 01 con chung tên Hồ Nguyễn Tường V, sinh ngày 05/8/2010 hiện đang sống với chung với anh và chị L. Nếu Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L thì anh yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con. Hiện tại, anh làm nghề thợ hồ, thu nhập mỗi ngày khoảng 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng).

Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa sơ thẩm Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, thư ký và đương sự đã tuân thủ theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh T kéo dài hơn 01 năm nay, mặc dù hiện tại anh chị sống chung nhà nhưng anh chị thừa nhận vợ chồng đã sống ly thân hơn 01 năm nay. Anh T muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh không có phương án nào để hàn gắn tình cảm. Do đó nên có căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh T đã trầm trọng, hôn nhân có kéo dài cũng không hạnh phúc nên đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Có 01 con chung tên Hồ Nguyễn Tường V, sinh ngày 05/8/2010 hiện đang sống với chung với chị L và anh T. Sau khi ly hôn chị L và anh T yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu người còn lại cấp dưỡng nuôi con. Tại biên bản hỏi ý kiến của con chung thì cháu Hồ Nguyễn Tường V, sinh ngày 05/8/2010 có nguyện vọng sống chung với mẹ nên để đảm bảo không làm xáo trộn cuộc sống hiện nay của con chung đề nghị Tòa chấp nhận yêu cầu của chị L, giao con chung cho chị L nuôi dưỡng. Ghi nhận chị L không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên Tòa và căn cứ vào đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa chị Nguyễn Thị L và anh Hồ Minh T là tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung theo quy định tại Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Hồ Minh T có nơi cư trú tại xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành theo quy định tại Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L và anh Hồ Minh T tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre vào ngày 09/8/2001 nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp. Chị L xác định nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do cả hai có bất đồng về quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hợp nhau, anh T không quan tâm đến gia đình và cuộc sống vợ chồng. Mặc dù sống chung nhà nhưng vợ chồng không còn tình cảm và không quan tâm, chia sẻ gì với nhau. Chị L và anh T đều thừa nhận vợ chồng đã sống ly thân khoảng 01 năm nay. Nay chị L yêu cầu được ly hôn, anh T không đồng ý ly hôn với chị L nhưng anh T lại không có phương án hàn gắn tình cảm vợ chồng. Từ đó có cơ sở để xác định, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu duy trì quan hệ hôn nhân này sẽ ảnh hưởng đến đời sống bình thường của các thành viên trong gia đình nên ly hôn là biện pháp tốt nhất cho cả hai. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L. Ghi nhận chị Nguyễn Thị L và anh Hồ Minh T không yêu cầu về cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn.

[3] Về con chung: Có 01 con chung tên Hồ Nguyễn Tường V, sinh ngày 05/8/2010 hiện đang sống với chung với chị L và anh T. Sau khi ly hôn chị L và anh T đều yêu cầu được nuôi con chung. Xét thấy, hiện tại chị L cũng có nghề nghiệp ổn định để có thể lo được cho cháu Tường V. Đồng thời, tại biên bản hỏi ý kiến của con chung thì cháu Hồ Nguyễn Tường V, sinh ngày 05/8/2010 có nguyện vọng sống chung với mẹ. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung và không làm xáo trộn cuộc sống hiện nay của con, Hội đồng xét xử giao cho chị L được trực tiếp nuôi cháu Tường V cho đến khi cháu Tường V đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật là phù hợp theo quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Ghi nhận chị L không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn anh T có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh T thực hiện quyền này. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với quy định tại các Điều 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[6] Về án phí:

Chị Nguyễn Thị L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[8] Từ những nhận định nêu trên, xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành là có căn cứ nên được chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 39, 147, 227, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Áp dụng các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84, 115 Luật Hôn nhân và gia đình;

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị L ly hôn với và anh Hồ Minh T. Ghi nhận chị L và anh T không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn.
  2. Về con chung: Giao con chung tên Hồ Nguyễn Tường V, sinh ngày 05/8/2010 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng.

    Anh Hồ Minh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như cấp dưỡng nuôi con.

  3. Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị L đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000466 ngày 06 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Chị Nguyễn Thị L đã nộp đủ án phí.
  5. Chị Nguyễn Thị L, anh Hồ Minh T có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - Phòng GĐKT TAND tỉnh Bến Tre;
  • - UBND xã An Hiệp;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Ngọc Trâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2024/HNGĐ-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH BẾN TRE về hôn nhân và gia đình (ly hôn, tranh chấp về nuôi con)

  • Số bản án: 60/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hôn nhân và gia đình (Ly hôn, tranh chấp về nuôi con)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger