Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐOAN HÙNG

TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số: 60/2023/HS-ST

Ngày 17/11/2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Hồng Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bình và bà Lê Thị Việt Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Lan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Linh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 50/2023/TLST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo;

1. Họ và tên: Nguyễn Văn H - Sinh ngày 12 tháng 11 năm 1979

Tên gọi khác: Không

Nơi sinh: Huyện Đ, tỉnh Phú Thọ

Nơi cư trú: Khu Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ

Nghề nghiệp: Lao động tự do . Trình độ học vấn: Lớp 2/12

Dân tộc; Kinh. Giới tính; N. Tôn giáo; Không. Quốc tịch; Việt Nam

Bố đẻ: Không xác định.

Mẹ đẻ: Nguyễn Thị Đ

Có vợ là Vũ Thị Thanh L. Có 01 con sinh năm 2008

Tiền án: Không

Tiền sự: Quyết định số 132/QĐ-UBND ngày 30/12/2022, Chủ tịch UBND xã H, huyện Đ áp dụng biện pháp hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn thời hạn 03 tháng. Đã chấp hành xong ngày 30/3/2023.

* Nhân thân:

- Bản án số 36/2019/HS-ST ngày 17/7/2019, Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đã nộp tiền án phí và chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/4/2021.

- Quyết định số 227/QĐ-XPVPHC ngày 28/6/2021, Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”, hình thức phạt tiền 1.500.000.đ. Đã nộp phạt xong ngày 05/7/2021.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/8/2023; tạm giam từ ngày 20/8/2023 cho đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P.

2. Họ và tên: Nguyễn Tiến D - Sinh ngày 25 tháng 6 năm 1963

Tên gọi khác: Không

Nơi sinh: Huyện Y, tỉnh Tuyên Quang

Nơi cư trú: Thôn I, xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang

Nghề nghiệp: Lao động tự do - Trình độ học vấn: Lớp 10/10

Dân tộc; Kinh. Giới tính; N. Tôn giáo; Không. Quốc tịch; Việt Nam

Con ông Nguyễn Tiến Đ1 và bà Nguyễn Thị B (đều đã chết)

Bị cáo không có vợ. Có 01 con sinh năm 2001

Tiền án, tiền sự: Không

* Nhân thân:

- Bản án số 98/STHS ngày 08/01/1997, Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xử phạt 06 năm tù về tội “Tổ chức dùng chất ma túy”, phạt bổ sung tiền 2.000.000.đ. Bản án số 958 ngày 20/6/1997, Tòa phúc thẩm - Tòa án nhân dân tối cao xét xử phúc thẩm, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 98/STHS ngày 08/01/1997 của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang, xử phạt bị cáo 06 năm tù và phạt bổ sung tiền 2.000.000.đ. Ngày 30/4/2000 được đặc xá tha tù trước thời hạn. Ngày 02/6/2010 được đình chỉ thi hành khoản tiền phạt và án phí.

- Bản án số 12/2006/HSST ngày 28/02/2006, Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, phạt bổ sung 5.000.000.đ. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/10/2011. Ngày 06//02/2013, được miễn khoản tiền phạt và tiền án phí còn lại.

- Quyết định số 27/QĐ-XPVPHC ngày 15/10/2018, Công an phường Y, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, hình thức phạt tiền 750.000.đ. Đã nộp phạt ngày 08/11/2018.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/8/2023 cho đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P.

3. Họ và tên: Hà Xuân T - Sinh ngày 17 tháng 5 năm 1989

Tên gọi khác: Không

Nơi sinh: Huyện Đ, tỉnh Phú Thọ

Nơi cư trú: Khu L, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ

Nghề nghiệp: Lao động tự do . Trình độ học vấn: Lớp 9/12

Dân tộc; Cao Lan. Giới tính; N. Tôn giáo; Không. Quốc tịch; Việt Nam

Con ông Hà Văn T1 và bà Đàm Thị S

Có vợ là Hà Thị T2. Có 02 con; lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2021

Tiền án: Không

Tiền sự: - Quyết định số 94/QĐ-UBND ngày 07/10/2021, Chủ tịch UBND xã H, huyện Đ áp dụng biện pháp hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn thời hạn 03 tháng về “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong ngày 15/01/2022;

- Quyết định số 56/QĐ-UBND ngày 16/6/2023, Chủ tịch UBND xã H, huyện Đ áp dụng biện pháp hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn thời hạn 03 tháng về “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngày 21/8/2023, miễn chấp hành thời gian còn lại của quyết định vì bị khởi tố, tạm giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/8/2023 cho đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P.

* Người bào chữa cho bị cáo Hà Xuân T: Bà Bùi Thu H1 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P

Các bị cáo và người bào chữa của bị cáo đều có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Vũ Công C; sinh năm 1985 (vắng mặt)
    Nơi cư trú: Khu Đại Hộ, xã Hợp Nhất, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ
  2. Bà Nguyễn Thị N1; sinh năm 1971 (có mặt)
    Nơi cư trú: Thôn D, xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang
  3. Chị Hà Thị T2; sinh năm 1989 (có mặt)
    Nơi cư trú: Khu L, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09 giờ 35 phút ngày 17/8/2023, tại khu N, xã C, huyện Đ, Công an huyện Đ đã phát hiện và lập biên bản phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn H ở khu Đ, xã H, huyện Đ đang tàng trữ trái phép chất ma túy để đem bán cho người khác. Thu giữ của H gồm: 02 gói giấy có đặc điểm gói ngoài là mảnh giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng bên trong đều chứa chất bột cục màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo kèm sim số 0988.486.875 và 01 xe gắn máy nhãn hiệu Espero Cup biển số 19AD-003.26.

Cơ quan điều tra - Công an huyện Đ đã niêm phong 02 gói giấy có chứa chất bột, cục màu trắng gửi đi giám định. Tại Bản kết luận giám định số 1082/KL-KTHS ngày 19/8/2023, Phòng K Công an tỉnh P kết luận:

“Chất bột, cục màu trắng chứa trong 02 gói giấy gửi đến giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 0,366 gam, loại Heroine (H), có tên khoa học là D1 được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất.

H2 lại đối tượng giám định: 0,217 gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm phong dán kín trong 01 túi niêm phong bên ngoài túi có đóng 03 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh P và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán”.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn H khai số ma tuý bị thu giữ là do H mua của Nguyễn Tiến D ở xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang với số tiền 400.000.đ được 04 gói ma túy. Sau khi mua được ma túy, trên đường về H đã sử dụng hết 02 gói, 02 gói ma túy còn lại có khối lượng 0,336 gam Heroine đang mang về bán cho Hà Xuân T ở khu L, xã H, huyện Đ nhưng chưa kịp giao cho T thì bị Cơ quan Công an phát hiện thu giữ. Tại Cơ quan điều tra, T thừa nhận ngày 17/8/2023 đã đưa cho H 200.000.đ để mua ma tuý và đang đợi H để nhận ma tuý thì bị phát hiện.

Căn cứ lời khai của H, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Tiến D tại thôn D, xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Kết quả khám xét thu giữ tại nơi ở của D 01 gói nhỏ có đặc điểm gói ngoài bằng mảnh giấy một mặt màu trắng, một mặt màu trắng có in chữ và dòng kẻ màu đen, bên trong có chứa chất bột cục màu trắng, D khai là ma túy Heroine. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ đã tiến hành niêm phong gửi đi giám định. Tại Bản Kết luận giám định số 1092/KL-KTHS ngày 22/8/2023, Phòng K Công an tỉnh P kết luận:

“Chất bột, cục màu trắng chứa trong 01 gói giấy có đặc điểm một mặt màu trắng, có in chữ và dòng kẻ màu đen, một mặt màu trắng trong Bì niêm phong gửi đến giám định là chất ma tuý, có tổng khối lượng 0,036 gam, loại Heroine (H),

H3 (hay Heroine có tên khoa học là D1): số thứ tự 9, Danh mục IA Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

H2 lại đối tượng giám định: 0,009 gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm phong dán kín trong 01 túi niêm phong bên ngoài túi có đóng 03 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh P và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán”.

Kết quả điều tra đã xác định như sau: Nguyễn Văn H, Hà Xuân T đều là đối tượng sử dụng chất ma tuý Heroine. Vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 17/8/2023, do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên T dùng điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 11Pro lắp sim số 0359.309.589 gọi đến số điện thoại 0988.486.xxx của H để hỏi mua 200.000.₫ ma tuý Heroine, H đồng ý nhưng do không có sẵn ma tuý nên H yêu cầu T phải đưa tiền trước để đi mua. T liền điều khiển xe môtô nhãn hiệu KITOSU biển số 22K1-2101 đi đến cửa hàng X thuộc khu V, xã H, huyện Đ gặp nhân viên cửa hàng là chị Nguyễn Kim H4, T đã chuyển 200.000.đ từ tài khoản Ngân hàng V số [...] của mình đến tài khoản Ngân hàng L1 số 0972407943 của chị H4 để nhờ chị H4 cho rút 200.000.đ, sau đó T cầm 200.000.đ này đi đến khu V, xã H đưa cho H để mua ma tuý.

Sau khi lấy được tiền của T, H gọi điện đến số điện thoại di động 0382.453.xxx của Nguyễn Tiến D hỏi mua của D 400.000.đ tiền ma tuý, D đồng ý. Sau đó H điều khiển xe gắn máy nhãn hiệu Espero Cup biển số 19AD - 003.26 đi đến đoạn đường liên xã thuộc thôn D, xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang đợi D, một lúc sau D điều khiển xe môtô Honda Dream biển số 22S1-123.02 đi đến gặp H. Tại đây, H đưa cho D 400.000.đ và D đưa cho H 04 gói ma tuý đều có đặc điểm bên ngoài là mảnh giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng, bên trong đều chứa ma túy loại Heroine. Sau khi mua được ma tuý của D, H đi về nhà, khi đến đoạn đường vắng thuộc xã C, huyện Đ, H lấy 02 gói ma tuý trong số 04 gói ma tuý vừa mua được sử dụng hết cho bản thân, 02 gói ma túy Heroine còn lại đem về giao cho T. Trên đường về, H nhận được điện thoại của T, H nói với T đã mua được ma tuý và hẹn T đến đoạn bờ đê thuộc khu Đ, xã H, huyện Đ để giao nhận, T đồng ý nhưng khi H đi đến khu N, xã C thì bị Cơ quan điều tra Công an huyện Đ phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang như đã nêu trên.

Về nguồn gốc số ma tuý bán cho H, D khai ngày 10/8/2023 mua được của một người nam giới tên C1 (không rõ địa chỉ) với số tiền 4.000.000.đ được 01 gói ma tuý Heroine. Số ma tuý này D mang về nhà ở rồi chia thành 20 gói nhỏ, đã sử dụng hết 15 gói cho bản thân, 04 gói bán cho H, còn lại 01 gói ma tuý có khối lượng 0,036 gam D cất giấu để sử dụng thì bị Cơ quan điều tra khám xét thu giữ.

Về vật chứng của vụ án hiện đang tạm giữ gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max lắp sim thuê bao số 0382453085, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 106 lắp sim thuê bao số 0353068581 và 400.000.đ (tạm giữ của bị cáo Nguyễn Tiến D); 01 điện thoại di động ViVo lắp sim thuê bao số 0988486875 (tạm giữ của bị cáo Nguyễn Văn H); 01 sim thuê bao số 0359309589 (tạm giữ của bị cáo Hà Xuân T) và 01 bì giấy niêm phong số 1082/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh P hoàn trả lại sau khi giám định.

Đối với 01 bì niêm phong số 1092/KL-KTHS do Phòng K Công an tỉnh P hoàn trả lại sau khi giám định, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã chuyển đến Công an huyện Y, tỉnh Tuyên Quang để xử lý theo thẩm quyền.

Cơ quan điều tra cũng đã trả lại một số tài sản cho chủ sở hữu gồm: Trả cho anh Vũ Công C 01 xe môtô biển số 19 - AD 003.26; trả cho bà Nguyễn Thị N1 01 xe môtô biển số 22S1 - 123.02 và 01 Giấy chứng nhận đăng kí xe môtô, xe gắn máy; trả cho chị Hà Thị T2 01 xe môtô biển số 22K1 - 2101 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 11 Pro.

Bản Cáo trạng số 51/CT-VKS.ĐH ngày 24/10/2023, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng truy tố bị cáo Hà Xuân T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Văn H và bị cáo Nguyễn Tiến D cùng về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Đề nghị phạt bị cáo Hà Xuân T từ 15 đến 18 tháng tù;

- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Đề nghị phạt bị cáo Nguyễn Văn H và bị cáo Nguyễn Tiến D mỗi bị cáo từ 30 đến 36 tháng tù.

- Miễn hình phạt phạt bổ sung cho các bị cáo.

Ngoài ra, Kiểm sát viên đề nghị: Tịch thu của Nguyễn Tiến D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max và số tiền 400.000.đ; tịch thu của Nguyễn Văn H 01 điện thoại di động ViVo để sung quỹ Nhà nước;

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Tiến D 01 chiếc điện thoại di động N2;

- Tịch thu 01 phôi sim thuê bao số 0359309589 của bị cáo Hà Xuân T và 01 bì giấy niêm phong số 1082/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh P để tiêu hủy.

- Xác nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại các tài sản cho chủ sở hữu là đúng định của pháp luât.

Sau khi nghe Kiểm sát viên trình bày luận tội, các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không oan. Các bị cáo không tự bào chữa, không tranh luận mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử cho hình phạt nhẹ nhất.

Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Hà Xuân T trình bày lời bào chữa, đồng ý với nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát truy tố bị cáo Hà Xuân T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và cho rằng bị cáo có thái độ thành khẩn, là người dân tộc thiểu số nên nhận thức pháp luật hạn chế vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo mức 15 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Do nghiện ma túy nên sáng ngày 17/8/2023, Hà Xuân T đã gọi điện thoại cho Nguyễn Văn H để hỏi mua ma túy sử dụng, Hải đồng và T đã đưa cho H số tiền 200.000.đ để mua ma túy. Sau khi nhận được tiền của T, H gọi điện thoại cho Nguyễn Tiến D để mua của D 400.000.đ tiền ma túy Heroine, mục đích để H sử dụng cho bản thân và bán cho T 200.000.đ như đã thỏa thuận với T trước đó. Sau đó H một mình điều khiển xe môtô đi đến thôn D, xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang gặp D và tại đây, D đã bán cho H 04 gói ma túy Heroine với số tiền 400.000.đ. Sau khi mua được ma túy của D, trên đường về H đã một mình sử dụng hết 02 gói ma túy, 02 gói ma túy còn lại H đem về để giao cho T và hẹn T đến đoạn bờ đê thuộc khu Đ, xã H, huyện Đ để nhận ma túy nhưng khi về đến khu N, xã C, huyện Đ thì bị Công an huyện Đ kiểm tra thu giữ. Số ma tuy bị thu giữ này có khối lượng là 0,366 gam loại Heroine.
  2. Tại phiên tòa, các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên mà không có lời bào chữa nào khác. Ngoài lời khai nhận của các bị cáo, thì hành vi phạm tội còn được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ khác gồm: Biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng với số ma túy đã thu giữ; Biên bản kiểm tra điện thoại; Kết luận giám định chất ma túy; Biên bản đối chất giữa các bị cáo với nhau; các vật chứng khác là những đồ vật, tài sản đã thu giữ; lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa cũng hoàn toàn phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của người liên quan và người làm chứng...Các tài liệu, chứng cứ đều hoàn toàn phù hợp với nhau, phù hợp với thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với các tình tiết sự kiện khác của vụ án và đều được thu thập, kiểm tra đánh giá đầy đủ, toàn diện khách quan đúng quy định của pháp luật.

    Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: Ngày 17/8/2023, Nguyễn Tiến D đã bán cho Nguyễn Văn H 04 gói ma túy loại ma túy Heroine với số tiền 400.000.đ. Nguyễn Văn H cũng đã nhận của Hà Xuân T số tiền 200.000.đ để bán cho T 02 gói ma túy có khối lượng 0,366 gam loại ma túy Heroine. Đối chiếu với quy định của pháp luật hình sự thì hành vi của Nguyễn Tiến D và Nguyễn Văn H đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, do vậy việc truy tố, xét xử các bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

    Điều luật quy định: “1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

    Đối với bị cáo Hà Xuân T đã mua của Nguyễn Văn H 200.000.₫ tiền ma túy, mục đích để sử dụng cho bản thân. Việc bị cáo chưa nhận được ma túy từ H là do trở ngại khác quan, ngoài ý muốn của bị cáo. Với khối lượng ma túy 0,366 gam loại Heroine mà H đang đem đến giao cho bị cáo thì bị cáo T phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật. Điều luật quy định:

    1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

    a) ...;

    c, H5, C2, M; Amphetamine; MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam

  3. Tính chất vụ án và tội phạm mà các bị cáo đã thực hiện là nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất an ninh, an toàn xã hội. Mặc dù các bị cáo hoàn toàn nhận thức được tác hại nguy hiểm của ma túy đối với con người và xã hội, ma túy cũng là một trong những nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác nhưng vì ham lợi bất chính và để thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên vẫn cố ý phạm tội do vậy cần phải có hình phạt tương xứng đủ để giáo dục cải tạo các bị cáo và răn đe đối với những kẻ khác.
  4. Về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
  5. - Đối với bị cáo Nguyễn Tiến D: Mặc dù hiện nay nhân thân không có tiền án, tiền sự, cũng không phải chịu tình tiết tăng nặng nào nhưng đã từng 02 lần bị kết án phạt tù đều về tội phạm ma túy và 01 lần bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép ma túy nhưng bị cáo vẫn không quyết tâm từ bỏ ma túy mà vì ham lợi bất chính nên lại phạm tội vì vậy cần phải xử phạt nghiêm nhưng cũng có xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo vì đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

    - Đối với bị cáo Nguyễn Văn H: Bị cáo hiện không có tiền án nhưng đang có 01 tiền sự, vừa mới chấp hành xong biện pháp giáo dục tại xã về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngoài ra, nhân thân cũng đã từng bị kết án tù về tội phạm ma túy nhưng vẫn không từ bỏ được ma túy mà lại tiếp tục phạm tội vì vậy cũng phải có hình tương xứng, phù hợp với hành vi phạm tội nhưng có giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo vì đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

    - Đối vối bị cáo Hà Xuân T: Bị cáo không có tiền án, lần đầu phạm tội cũng không phải chịu tình tiết tăng nặng nào nhưng nhân thân hiện đang có 02 tiền sự đều bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã vì đã sử dụng trái phép ma túy nhưng vẫn không lấy đó làm bài họ để từ bỏ ma túy mà chỉ vì thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên đã mua và tàng trữ ma túy để sử dụng nên cũng cần có hình phạt phù hợp để giáo dục răn đe bị cáo, nhưng xét quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thực sự thành khẩn và hối hận về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số và gia đình thuộc hộ nghèo vì vậy được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

    Căn cứ tính chất, mức độ hành vi và tội phạm mà các bị cáo đã thực hiện, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo như đã nêu trên, thì hành vi phạm tội của các bị cáo cần thiết phải áp dụng hình phạt tù, cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định đủ để giáo dục, cải tạo và cũng là giúp cho các bị cáo từ bỏ ma túy, sau khi chấp hành xong hình phạt tù trở về với xã hội sẽ là những công dân tốt.

  6. Ngoài hình phạt chính, thì theo quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, các bị cáo còn có thể bị phạt một khoản tiền, tịch thu một phần tài sản để nộp ngân sách Nhà nước, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định nhưng do các bị cáo không có tài sản riêng, là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng phạt bổ sung.
  7. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ 0,036 gam ma túy để sử dụng của Nguyễn Tiến D. Cơ quan điều tra C3 huyện Đoan H6 đã chuyển hồ sơ cùng vật chứng là 01 bì niêm phong số 1092/KL-KTHS do Phòng K Công an tỉnh P hoàn trả lại sau khi giám định đến Công an huyện Y, tỉnh Tuyên Quang để xử lý theo thẩm quyền nên không xem xét xử lý trong vụ án này.
  8. Đối với hành vi sử dụng trái phép ma túy của Nguyễn Văn H và Hà Xuân T, Công an huyện Đ đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định nên cũng không đề cập xử lý trong vụ án này.

    Về nguồn gốc ma túy, bị cáo Nguyễn Tiến D khai mua của người nam giới tên C1 nhưng không rõ địa chỉ. Cơ quan điều tra cũng đã tiến hành điều tra xác minh nhưng vẫn không làm rõ được nên không đề cập xử lý trong vụ án này.

  9. Về vật chứng của vụ án:
  10. - Đối với 01 bì giấy niêm phong số 1082/KL-KTHS bên trong là chất ma túy do Phòng K Công an tỉnh P hoàn trả lại sau khi giám định và 01 phôi sim có số thuê bao 0359309589 của Hà Xuân T không còn giá trị sử dụng phải tịch thu tiêu hủy;

    - Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max của Nguyễn Tiến D đã sử dụng để liên lạc mua bán ma túy và số tiền 400.000.đ do D bán ma túy mà có vì vậy phải tịch thu để sung quỹ Nhà nước;

    - Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ViVo lắp sim thuê bao số 0988486875 của Nguyễn Văn H cũng đã sử dụng vào việc liên lạc mua bán ma túy nên cũng tịch thu để bán sung quỹ Nhà nước;

    - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 106 lắp sim thuê bao số 0353068581, quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định thuộc sở hữu hợp pháp của bị cáo Nguyễn Tiến D, không sử dụng vào việc phạm tội vì vậy trả lại cho bị cáo nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án;

    - Quá trình điều tra và tại phiên tòa cũng xác định: Chiếc xe môtô nhãn hiệu ESPERO Cup biển số 19 - AD 003.26 mà bị cáo H sử dụng là tài sản hợp pháp của anh Vũ Công C; chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda, biển số 22S1 - 123.02 mà bị cáo D sử dụng là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị N1; chiếc xe môtô nhãn hiệu KITOSU, biển số 22K1 - 2101 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 11 Pro là tài sản hợp pháp của chị Hà Thị T2. Anh C, bà N1 và chị T2 đều không biết và không có lỗi trong việc bị cáo sử dụng tài sản này vào việc mua bán trái phép ma túy nên Cơ quan điều tra đã trả lại là đúng pháp luật được xác nhận.

  11. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tiến D và Nguyễn Văn H phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  12. Bị cáo Hà Xuân T là người dân tộc thiểu số và thuộc hộ nghèo có điều kiện kinh khó khăn nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

  13. Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Hà Xuân T đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo mức hình phạt thấp nhất theo như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát. Xét đề nghị của người bào chữa là có căn cứ nên được chấp nhận.
  14. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã trình bày luận tội đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội như Cáo trạng đã truy tố, đề nghị mức hình phạt đối với từng bị cáo, đề xuất về xử lý vật chứng và án phí. Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, phù hợp với pháp luật nên được chấp nhận.
  15. Căn cứ vào diễn biến và kết quả tranh tụng tại phiên tòa cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở để kết luận: Trong quá trình điều tra, truy tố, các quyết định và hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; của Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên đều chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các tài liệu, chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra đều hợp pháp, phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án, phù hợp với diễn biến tại phiên tòa và có đủ căn cứ để chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hà Xuân T 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 19/8/2023.
  • Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
    • + Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 17/8/2023.
    • + Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến D 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 19/8/2023.
  • Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46, khoản 1 và khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • + Tịch thu 01 bì giấy số 1082/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh P hoàn trả lại sau khi giám định và 01 phôi sim có số thuê bao 0359309589 của bị cáo Hà Xuân T để tiêu hủy;
    • + Tịch thu của bị cáo Nguyễn Tiến D 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max vỏ màu vàng (đã cũ), số Imei 357273095810489 lắp sim thuê bao số 0382453085 và số tiền 400.000.đ (bốn trăm nghìn đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước;
    • + Tịch thu của bị cáo Nguyễn Văn H 01 điện thoại di động nhãn hiệu ViVo vỏ màu xanh (đã cũ), số Imei 1: 864739049869439, số Imei 2: 864739049869421 lắp sim thuê bao số 0988486875 để bán nộp vào ngân sách Nhà nước;
    • + Trả lại cho bị cáo Nguyễn Tiến D 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 106 vỏ màu đen (đã cũ), số Imei 1: 354194105194917, số Imei 2: 354194106194916 lắp sim thuê bao số 0353068581 nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án;
  • (Toàn bộ những vật chứng, đồ vật, tài sản trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ và có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/10/2023 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Đ với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng có lưu trong hồ sơ vụ án).

  • + Xác nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại những tài sản sau là hợp pháp: Trả cho anh Vũ Công C 01 xe môtô nhãn hiệu ESPERO Cup (đã cũ), xe gắn biển số 19 - AD 003.26; trả cho bà Nguyễn Thị N1 01 xe môtô nhãn hiệu Honda (đã cũ), xe gắn biển số 22S1 - 123.02 và 01 Giấy chứng nhận đăng kí xe môtô, xe gắn máy, biển số đăng kí 22S1 - 23.02 mang tên Nguyễn Thị N1; trả cho chị Hà Thị T2 01 xe môtô nhãn hiệu KITOSU (đã cũ), xe gắn biển số 22K1 - 2101 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 11 Pro vỏ màu xanh (đã cũ).
  • (Các biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 21/9/2023 có lưu trong hồ sơ vụ án).

  • Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14: Bị cáo Nguyễn Văn H và bị cáo Nguyễn Tiến D mỗi bị cáo phải nộp 200.000.đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  • Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hà Xuân T.

Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh, huyện;
  • - Công an huyện;
  • - Thi hành án hình sự, dân sự;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ;
  • - UBND Trung Môn, h. Yên Sơn;
  • - UBND xã Hợp Nhất, h. Đoan Hùng;
  • - Bị cáo, người bào chữa;
  • - Người liên quan;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Tạ Hồng Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2023/HS-ST ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 60/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tiến D và Nguyễn Văn H đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger