|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 60/2024/HS-ST
Ngày: 17-9-2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Phúc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Thạch Út
- Ông Ngô Phúc
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Đào - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: ông Lê Thanh Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 54/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2024/QĐXXST- HS ngày 22 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Huỳnh Nguyễn Phúc H (S), sinh năm 2003, tại An Giang; Nơi cư trú: khóm H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Đạo Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Trung T, sinh năm 1983 và bà Nguyễn Hoàng Xuân N, sinh năm 1985; anh, chị, em ruột: có 02 người, bị cáo là người lớn nhất; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/5/2024, tại Nhà tạm giữ - Công an huyện C, tỉnh An Giang. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại:
A, sinh năm 1996 (có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt)
2/ Đỗ Thị Đ, sinh năm 1996 (có mặt)
Địa chỉ: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn Trọng H1, sinh năm 1982 (vắng mặt)
- Trương Quốc L, sinh năm 1969 (vắng mặt)
- Nguyễn Hoàng Xuân N, sinh năm 1985 (có mặt)
Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.
Địa chỉ: khóm Bình Hòa, thị trấn Cái Dầu, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang
Địa chỉ: khóm H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang.
* Người làm chứng:
Lâm Phương Đ1, Nguyễn Trường H2, Quách Chí H3 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 12/3/2024 Lâm Hoàng Đ2 cho Huỳnh Nguyễn Phúc H mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Sonic, biển số 67L2-330.86 để về phòng trọ của bạn gái H, lúc này H cho Nguyễn Trường H2 quá giang về nhà, khi H chạy xe đến khu vực Công an thị trấn A thì H kêu Trường H2 xuống xe và quay trở lại nhà Quách Chí H3 để gặp Đ2, khi H đến nhà Quách Chí H3 thì thấy Lâm Hoàng Đ2 và Quách Chí H3 bị Công an huyện C bắt về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên H điều khiển xe mô tô nói trên về nhà bạn gái H. Sau khi biết Đ2 bị bắt thì vợ Đ2 là Đỗ Thị Đ nhiều lần điện thoại yêu cầu H trả lại xe mô tô biển số 67L2-330.86 nhưng H không trả lại xe cho Đ, ngày 22/3/2024 H nhờ Lâm Phương Đ1 rao bán xe mô tô trên mạng xã hội, ngày 23/3/2024 Nguyễn Trọng H1 đồng ý mua xe với giá 5.000.000 đồng, sau khi bán được xe H cho Đ1 150.000 đồng, số tiền còn lại H tiêu xài cá nhân hết, ngày 03/5/2024 Đ trình báo với Công an thị trấn A về hành vi chiếm đoạt tài sản của H.
Ngày 10/5/2024 Huỳnh Nguyễn Phúc H bị khởi tố điều tra.
* Vật chứng thu giữ:
- Một xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Sonic, số máy KB11E1227667, số khung MH1KB1118KK228328 và một giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 67L2-330.86. Hiện đã trao trả cho bị hại Đỗ Thị Đ.
- Một biển số xe 67D2-227.37 và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 022611, tên chủ xe Trương Quốc L. Đã bàn giao cho Công an huyện C, tỉnh An Giang xử lý, thu hồi.
- Một biển số xe 67L2-330.86 và một Hồ sơ gốc đăng ký xe mô tô biển số 67L2-330.86 của Đỗ Thị Đ. Đã bàn giao cho Công an xã M, huyện C, tỉnh An Giang để đăng ký lại cho Đỗ Thị Đ.
- Tiền Việt Nam 5.000.000 đồng do mẹ ruột bị cáo là Nguyễn Hoàng Xuân N nộp khắc phục hậu quả.
* Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 19/KL.HĐ ngày 07/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, tỉnh An Giang, kết luận: 01 xe mô tô biển số 67L2-330.86, nhãn hiệu Honda, loại Sonic, màu đỏ-trắng, số máy KB11E1227667, số khung MH1KB1118KK228328, xe đã qua sử dụng, có giá trị 65.000.000 đồng × 50% = 32.500.000 đồng (ba mươi hai triệu năm trăm ngàn đồng).
Tại Bản cáo trạng số: 54/CT-VKSCT-HS ngày 16/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Huỳnh Nguyễn Phúc H về tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.
Bị hại Lâm Hoàng Đ2 và Đỗ Thị Đ trình bày phù hợp với nội dung vụ án đã nêu. Bị hại đã nhận lại xe, không yêu cầu bị cáo bồi thường, yêu cầu xử lý hình sự đối với hành vi của bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Trọng H1, Trương Quốc L, Nguyễn Hoàng Xuân N trình bày phù hợp với nội dung vụ án đã nêu, H1 và L không biết xe do H phạm tội mà có, H1 đã giao nộp lại xe mô tô và không yêu cầu bồi thường. N đã nộp 5.000.000 đồng khắc phục hậu quả và không yêu cầu H trả lại.
Người làm chứng Lâm Phương Đ1, Quách Chí H3, Nguyễn Trường H2 trình bày phù hợp với nội dung vụ án đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành thực hành quyền công tố Nhà nước tại phiên tòa phát biểu lời luận tội đối với bị cáo và giữ nguyên truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, nhân thân bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Huỳnh Nguyễn Phúc H mức án từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam (ngày 03/5/2024);
Về biện pháp tư pháp: bị hại đã nhận lại xe, không yêu cầu bị cáo hồi thường gì thêm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Trọng H1 không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền mua xe, đề nghị không đề cập xem xét. Đề nghị trả lại cho Nguyễn Hoàng Xuân N số tiền 5.000.000 đồng nộp khắc phục hậu quả.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng, tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
- Về nội dung vụ án:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo thuộc thành phần nhân dân lao động nghèo, trình độ học vấn thấp, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Đỗ Thị Đ đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về biện pháp tư pháp: Nguyễn Trọng H1 không biết xe mô tô biển số: 67L2-330.86 do bị cáo phạm tội mà có nên đồng ý mua với số tiền là 5.000.000 đồng, H1 không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã bỏ ra mua xe nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét. Đối với số tiền 5.000.000 đồng Nguyễn Hoàng Xuân N nộp khắc phục hậu quả, do bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho N số tiền trên là phù hợp.
- Bị cáo Huỳnh Nguyễn Phúc H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, Cơ quan điều tra đã tiến hành lấy lời khai và làm rõ các tình tiết vụ án nên việc vắng mặt của những người này không làm ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Huỳnh Nguyễn Phúc H khai nhận đã lợi dụng sự tin tưởng của Lâm Hoàng Đ2 cho bị cáo mượn xe mô tô biển số: 67L2-330.86 nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. Sau khi nhận tài sản của Lâm Hoàng Đ2 và biết Đ2 bị cơ quan Công an bắt vì vi phạm pháp luật nên bị cáo đã đem tài sản bán cho Nguyễn Trọng H1 với số tiền 5.000.000 đồng để tiêu xài cá nhân. Theo kết luận định giá xe mô tô biển số: 67L2-330.86 là tài sản bị chiếm đoạt có giá trị là 32.500.000 đồng. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tình tiết, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng. Như vậy đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Huỳnh Nguyễn Phúc H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo đủ khả năng nhận thức hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện thái độ xem thường pháp luật, do đó cần áp dụng hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một khoản thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức tôn trọng pháp luật và phòng ngừa chung cho xã hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 175; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
- - Tuyên bố bị cáo Huỳnh Nguyễn Phúc H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”;
- - Xử phạt bị cáo Huỳnh Nguyễn Phúc H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam (ngày 03/5/2024).
- Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự
Trả lại cho Nguyễn Hoàng Xuân N số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).
(Các vật chứng được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang theo quyết định chuyển vật chứng số 41/QĐ-VKS-HS ngày 16/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang)
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a, điểm c khoản 1 Điều 23, Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/ 12/ 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Huỳnh Nguyễn Phúc H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo : Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (17/9/2024). Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản bán được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Hữu Phúc |
Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 60/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt bị cáo 01 năm 03 tháng tù
