Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI BÌNH

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Án số: 60/2024/HS-ST

Ngày 17 - 4 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Việt Phương và bà Nguyễn Thị Thu Trang.

-Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Khánh Linh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Đặng Huyền Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, Toà án nhân dân thành phố Thái Bình mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 58/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2024/QĐXX-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn B, sinh ngày 04/10/1985, tại tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: số nhà E, đường N, tổ H, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K (đã chết) và bà Bùi Thị H; vợ là chị Nguyễn Thị H1 và có 02 con;

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

  • Bản án số 80/HSST ngày 28/6/2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xử Nguyễn Văn B 05 tù về tội Cướp tài sản thời hạn tính từ ngày 20/01/2004. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/4/2008. Thi hành xong phần án phí ngày 17/02/2006, (đã xóa án tích).
  • Quyết định số 29/QĐ-TA ngày 20/6/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn B, thời hạn 15 tháng. Chấp hành xong quyết định ngày 14/8/2017, (đã xóa quyết định).

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/12/2023, tạm giam từ ngày 22/12/2023 đến ngày 29/12/2023 được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp Bảo lĩnh, có mặt.

* Người chứng kiến:

  • Ông Trần Xuân Q, sinh năm 1969, nơi cư trú: Thôn L, xã V, thành phố T, thành phố T, tỉnh Thái Bình, (vắng mặt).
  • Ông Bùi Đình T, sinh năm 1977, nơi cư trú: Ngõ B, đường T, tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ ngày 16/12/2023, tại đường L, thuộc khu vực tổ D, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình, tổ công tác của Công an thành phố T phát hiện bị cáo Nguyễn Văn B có biểu hiện liên quan đến ma túy nên yêu cầu bị cáo dừng lại để kiểm tra. Trước sự chứng kiến của những người chứng kiến, bị cáo B tự giác đưa từ lòng bàn tay trái của bị cáo ra giao nộp cho tổ công tác 01 gói giấy tráng kim màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục và khai nhận đó là ma túy loại Heroine, nguồn gốc của gói ma túy là do trước đó khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, tại khu vực tái định cư Đ, tổ C, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình, bị cáo B mua của một người nam giới không biết họ và tên, địa chỉ giá 200.000 đồng sau đó bị cáo cầm trong lòng bàn tay trái đi tìm nơi sử dụng thì bị bắt quả tang. Tổ công tác niêm phong gói ma tuý trong phong bì rồi đưa bị cáo B cùng xe mô tô do bị cáo điều khiển và mời những người chứng kiến về trụ sở Công an phường T, thành phố T để làm việc. Tại trụ sở Công an phường, tổ công tác thu tại túi quần bên trái của bị cáo B 01 điện thoại di động hiệu Redmi, màu xanh. Kiểm tra xe mô tô hiệu Yamha Nouvo LX, màu trắng đen, biển số 17B1-25.222 do bị cáo B điều khiển nhưng không phát hiện thu giữ gì. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thực hiện các thủ tục khác theo quy định.

Tại bản kết luận giám định số 1813/KL-KTHS ngày 21/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: “Mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine), có khối lượng 0,1874 gam (Không phẩy một nghìn tám trăm bảy mươi tư gam)".

Tại cơ quan điều tra những người chứng kiến là ông Trần Xuân Q và ông Bùi Đình T trình bày như sau: Khoảng 10 giờ ngày 16/12/2023, tại đường L, thuộc khu vực tổ D, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình, các ông chứng kiến bị cáo Nguyễn Văn B tự giác đưa từ lòng bàn tay trái của bị cáo ra giao nộp cho tổ công tác 01 gói giấy tráng kim màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục và khai nhận đó là ma túy loại Heroine bị cáo B vừa mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác niêm phong gói ma tuý lại. Tại trụ sở Công an phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình, tổ công tác thu tại túi quần bên trái đang mặc của bị cáo B 01 điện thoại di động Redmi, màu xanh. Kiểm tra xe mô tô do bị cáo B điều khiển nhưng không phát hiện thu giữ gì.

Cáo trạng số 63/CT - VKSTPTB ngày 21/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Nguyễn Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo.

Kiểm sát viên luận tội: Tại phiên toà không phát sinh tình tiết mới làm thay đổi nội dung vụ án, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nên cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Kiểm sát viên phân tích nguyên nhân, điều kiện phạm tội, đánh giá chứng cứ, xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, hậu quả, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; khoản 1 Điều 47; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B mức án từ 18 tháng đến 21 tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt thi hành án. Được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2023 đến ngày 29/12/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, đề nghị xử lý vật chứng bằng hình thức: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo hoàn lại sau giám định. Chấp nhận cơ quan điều tra đã trả lại 01 xe mô tô hiệu Yamha Nouvo LX, màu trắng - đen, biển số 17B1-25.222 đã qua sử dụng cho bà Bùi Thị H - mẹ bị cáo B). T1 trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động Redmi, màu xanh.
  • Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn B phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Văn B xác định cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên bị cáo không trình bày lời bào chữa, không trình bày ý kiến tranh luận về tội danh, mức hình phạt và các nội dung khác do Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa. Kết thúc phần tranh luận bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố: Các tài liệu, chứng cứ do Điều tra viên và Kiểm sát viên thu thập trong quá trình điều tra vụ án đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật và đó là các tài liệu, chứng cứ hợp pháp chứng minh cho hành vi phạm tội của bị cáo. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên và cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp

[2] Căn cứ kết tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với Cáo trạng đã truy tố, đồng thời còn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Bản Kết luận giám định; Lời khai của người chứng kiến cùng các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh về hành vi phạm tội của bị cáo thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Hồi 10 giờ ngày 16/12/2023, tại đường L, thuộc khu vực tổ D, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình, bị cáo Nguyễn Văn B đã có hành vi tàng trữ trái phép trên người 01 gói ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,1874 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an thành phố T, tỉnh Thái Bình phát hiện, bắt quả tang. Xét, bị cáo biết các tác hại do ma túy gây ra và hiều rõ các quy định của pháp luật về việc nghiêm cấm đối với mọi hành vi liên quan đến ma túy, song để đạt được nhu cầu sử dụng ma tuý của bản thân nên cố ý phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo phù hợp với dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội phạm quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Điều 249 - Tội tàng trữ trái phép chất ma túy: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:a) ...; c)Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; ...”. Như vậy, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và khung hình phạt của Điều luật là có căn cứ, đúng pháp luật. Mức hình phạt Kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy là nguy hiểm cho xã hội, vì hành vi đó đã cố ý xâm phạm đến các quy định của nhà nước về quản lý các chất ma túy, đe dọa nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe của con người cũng như ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội nên cần xét xử bị cáo nghiêm minh.

[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào nhưng có nhân thân xấu, đã 01 lần bị Toà án xét xử áp dụng hình phạt, 01 lần bị Toà án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, vì vậy cần xem xét khi lượng hình. Song, cũng xét tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, do đó, khi quyết định hình phạt bị cáo được áp dụng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử sẽ quyết định mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra là phạt tù có thời hạn - buộc bị cáo cách ly ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để đảm bảo hiệu quả của việc cải tạo, giáo dục cũng như phòng ngừa tội phạm chung. Bị cáo còn bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

[6] Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo khai mua của 01 người nam giới, bị cáo không biết tên, địa chỉ của người này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, xử lý người bán ma tuý cho bị cáo là phù hợp.

[7] Về xử lý vật chứng: Số ma túy loại Heroine thu giữ của bị cáo được hoàn lại sau giám định, là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Về tài sản khác: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamha Nouvo LX, màu trắng - đen, biển kiểm soát 17B1-25.222. Quá trình điều tra xác định tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà Bùi Thị H, sinh năm 1966, trú tại số nhà E, đường N, tổ H, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình (là mẹ đẻ bị cáo). Ngày 16/12/2023, bị cáo mượn xe của bà H nhưng bà H không biết bị cáo mượn xe để đi mua ma túy nên ngày 26/02/2023, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả cho bà H, do đó không phải giải quyết tại bản án này. Đối với 01 điện thoại di động hiệu Redmi, màu xanh, xét không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo.

[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn B phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn B có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; khoản 1 Điều 47; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự. Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 01 (một) năm 09 tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt thi hành án. Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2023 đến ngày 29/12/2023.
  3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ số ma túy loại Heroine thu của bị cáo Nguyễn Văn B hoàn lại sau giám định và bao gói.
  4. Về tài sản khác: Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn B 01 điện thoại di động hiệu Redmi, màu xanh.
  5. Vật chứng và tài sản khác có đặc điểm như ghi tại: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 16/12/2023; Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, ngày 21/3/2024.
  6. Án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn B phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  7. Quyền kháng cáo: Án tuyên công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 17/4/2024.
  8. Quyền thi hành: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • Bị cáo;
  • VKSND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • Chi cục THADS TP.Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • Nhà tạm giữ Công an TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • VKS tỉnh Thái Bình;
  • Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Hân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 60/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ 0,1874 gam Heroine
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger