|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 60/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 16/4/2024
V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Quốc Việt.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Nam và bà Huỳnh Thị Thúy Hoa
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trương Phi – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 762/2023/TLST-HNGĐ, ngày 05 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 142/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 167/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Phan Thị Bích N, sinh năm 1979
Địa chỉ: Số B, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Địa chỉ hiện nay: 25/13, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Điện thoại: 0962.024.xxx (có mặt).
Bị đơn: Ông Vũ Quang T, sinh năm 1975
Địa chỉ: Số B, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Điện thoại: 0345.809.xxx (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn bà Phan Thị Bích N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà N và ông T tự nguyện tìm hiểu sau đó đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, tỉnh An Giang được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 199 ngày 16/4/2002. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do bà N và ông T bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên cãi vả, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Bà N đã nhiều lần cố gắng tìm cách hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng vẫn không được, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Bà nhận thấy vợ chồng sống với nhau không còn hạnh phúc, mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt nên bà yêu cầu được ly hôn với ông T.
- Về quan hệ con chung: có 02 con chung là Vũ Thành Đ, sinh ngày 29/03/2002; Vũ Ngọc L sinh ngày 04/7/2017. Hiện tại cháu Đ đã trưởng thành nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết; sau khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi dưỡng cháu L. Về cấp dưỡng không yêu cầu Tòa án giải quyết
- Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Vũ Quang T vắng mặt không có văn bản trình bày ý kiến trong quá trình tố tụng:
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đảm bảo theo đúng trình tự quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của bà N là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N được ly hôn với ông T, về con chung giao cho bà N tiếp tục nuôi dưỡng cháu L, ông T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà N không yêu cầu; về tài sản chung, nợ chung không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Tranh chấp giữa bà Phan Thị Bích N và ông Vũ Quang T là tranh chấp về ly hôn, nuôi con, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Bị đơn ông Vũ Quang T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ 2 nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử xét xử vụ án vắng mặt ông T theo thủ tục chung.
[2] Về quan hệ hôn nhân và gia đình:
[2.1] Hôn nhân giữa bà N và ông T xuất phát do tìm hiểu, quen biết tự nguyện tiến đến hôn nhân, không vi phạm điều cấm của Luật Hôn nhân và gia đình, đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình.
[2.2] Bà N khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông T, căn cứ để bà yêu cầu do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm, ông T thường xuyên uống rượu, không chăm lo cuộc sống trong gia đình dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Mặc dù, mâu thuẫn giữa bà N và ông T đã được bà N nhường nhịn, tha thứ nhưng không có kết quả. Do không thể chung sống cùng với nhau, vợ chồng đã ly thân từ năm 2016, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Ông T vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, không có văn bản trình bày ý kiến không thể hiện nguyện vọng đoàn tụ gia đình.
Xét thấy, qua trình bày của bà N, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, các bên không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc lẫn nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Các bên đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, yêu cầu khởi kiện của bà N là có căn cứ, phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
[3] Về quan hệ con chung và cấp dưỡng: có 02 con chung là Vũ Thành Đ, sinh ngày 29/03/2002; Vũ Ngọc L sinh ngày 04/7/2017. Xét thấy, cháu Đ đã đủ tuổi trưởng thành, có thể lo cho cuộc sống bản thân nên Hội đồng xét xử không xét đến; cháu L đang có cuộc sống ổn định cùng bà N. Do đó, cần ổn định cuộc sống của cháu L, tránh xáo trộn ảnh hưởng đến tâm lý và việc học tập của cháu. Đồng thời, ông T vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, không thể hiện nguyện vọng mong muốn nuôi cháu. Do đó, cần để bà N tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Ông T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà N không yêu cầu.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xét đến.
[5] Về án phí: Bà N có nghĩa vụ nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 266; Điều 273; Điều 227; 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- - Điều 19; Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56, Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn Nhân và Gia đình năm 2014;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
[1] Về quan hệ hôn nhân và gia đình:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Bích N. Bà Phan Thị Bích N được ly hôn với ông Vũ Quang T.
[2] Về quan hệ con chung và cấp dưỡng:
Có 02 con chung là Vũ Thành Đ, sinh ngày 29/03/2002; Vũ Ngọc L sinh ngày 04/7/2017. Cháu Đ đã đủ tuổi trưởng thành, nên Hội đồng xét xử không xét đến, sau khi ly hôn bà N được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu L. Ông T không phải cấp dưỡng con chung do bà N không yêu cầu
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình phải tôn trọng quyền được nuôi con của người trực tiếp nuôi con. Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định pháp luật.
[3] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không giải quyết.
[4] Về án phí sơ thẩm:
Bà N có trách nhiệm nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001207 ngày 05 tháng 12 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.
[5] Về quyền kháng cáo:
Bà N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Ông T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
(Đã giải thích điều 26 Luật thi hành án)
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Quốc Việt |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ (Ký tên, ghi rõ họ tên) Đặng Thị Mỹ Hường |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) Nguyễn Minh Quốc Việt |
|
Đặng Hữu Tấn |
Bản án số 60/2024/HNGĐ-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 60/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Về quan hệ con chung và cấp dưỡng: Có 02 con chung là Vũ Thành Đạt, sinh ngày 29/03/2002; Vũ Ngọc Lam sinh ngày 04/7/2017. Cháu Đạt đã đủ tuổi trưởng thành, nên Hội đồng xét xử không xét đến, sau khi ly hôn bà Ngọc được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lam. Ông Thành không phải cấp dưỡng con chung do bà Ngọc không yêu cầu.
