TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 60/2024/HS-ST Ngày: 15/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thúy Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Định và bà Nguyễn Thị Bích Liên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Hải Long - Thư ký Tòa án nhân tỉnh Hải Dương
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Đàm Thị Hạnh – Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 56/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2024/HSST-QĐ ngày 22 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Tống Thanh T, sinh ngày 15/10/1983; Nơi sinh: T, Hải Dương. Đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Số I, Tôn Đức T1, khu dân cư N, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương; giới tính: nữ; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Nhân viên phòng hành chính nhân sự - Công ty TNHH C1; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Tống Văn T2 và con bà Nguyễn Thị T3; chồng là Phạm Văn H; bị cáo có 2 con sinh năm 2006 và 2014; tiền án, tiền sự: Không; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Trương Thị H1, sinh ngày 02/11/1989; Nơi sinh: C, Quảng Ninh. Đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: số nhà G, ngõ F N, tổ C, khu D, phường Q, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; giới tính: nữ; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Sán Dìu; tôn giáo: Không; con ông Trương Văn L và con bà Trần Thị B; có chồng là Dương D và 02 con, con sinh các năm 2018 và 2020; tiền án, tiền sự: Không; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Đỗ Thành L1, sinh ngày 01/10/1991; Nơi sinh: T, Hải Phòng. Đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: thôn B xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng; giới tính: nam; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Công nhân; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Đỗ Văn L2 và con bà Phạm Thị H2; có vợ Bùi Thị M và 02 con, con sinh các năm 2020 và 2021; tiền án, tiền sự: Không; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Nguyễn Văn T4, sinh ngày 16/01/1982; Nơi sinh: Chí L3, Hải Dương. Đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: KDC T, phường Đ, thành phố C, tỉnh Hải Dương; giới tính; nam; trình độ văn hóa: 7/12; nghề nghiệp: Công nhân; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông: Nguyễn Văn H3 và con bà Nguyễn Thị L4; có vợ là Bùi Thị M1 và 2 con đều sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Người làm chứng:
- Anh Trần Đình Q, sinh năm 1984;
- Anh Nguyễn Hữu P, sinh năm 1984;
Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ tháng 5/2020 đến ngày 02/4/2022, Mai Ngọc V đã thành lập, sở hữu nhiều trường nghề trong đó có Trường K - Chi nhánh Công ty TNHH N, đã chỉ đạo Nguyễn Văn C (là Giám đốc Công ty TNHH N, Phó Hiệu trưởng Trường K) cùng các nhân viên của T5 đăng bài, tư vấn, bán chứng chỉ không qua đào tạo, sát hạch với giá từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng (đối với cộng tác viên) và khoảng 1.000.000 đồng/chứng chỉ cho khách lẻ. Khi có khách đặt mua, Nguyễn Văn C sẽ chỉ đạo các nhân viên hoàn thiện chứng chỉ, giao cho khách hàng qua Bưu cục V2. Khách hàng thanh toán tiền mua chứng chỉ vào tài khoản số 8071427 mang tên Nguyễn Văn C mở tại Ngân hàng TMCP Á hoặc nhân viên giao hàng của Viettel P1 thu hộ.
- Hành vi làm giả 01 chứng chỉ chứng chỉ vận hành thiết bị nâng (xe nâng) và 01 chứng chỉ vận hành thiết bị nâng (cẩu trục) mang tên Nguyễn Hữu P của Tống Thanh T và Trương Thị H1:
Tống Thanh T và Trương Thị H1 là nhân viên Phòng hành chính nhân sự thuộc Công ty TNHH C1, địa chỉ: V, Chí L3, Hải Dương. Tháng 11/2021, T yêu cầu H1 tìm kiếm các cơ sở đào tạo để cấp chứng chỉ vận hành thiết bị nâng cho anh Nguyễn Hữu P (là tổ trưởng bộ phận máy tại Công ty C1) nhằm mục đích hoàn thiện hồ sơ cho công nhân. H1 đã lên mạng tìm kiếm và thấy quảng cáo, bài đăng của Trường K có cấp chứng chỉ nghề như T yêu cầu. H1 đã kết bạn Zalo theo số điện thoại của Nguyễn Văn C trên trang quảng cáo thì được tư vấn nếu đã biết vận hành xe nâng rồi thì không cần học và thi sát hạch, chỉ cần gửi ảnh chứng minh nhân dân hoặc ảnh căn cước công dân và ảnh chân dung, địa chỉ nhận hàng qua Z, khoảng vài ngày sau sẽ có chứng chỉ, với chi phí 1.000.000đồng/chứng chỉ. H1 đã báo cáo lại với T và được T đồng ý. T bảo anh P gửi ảnh chứng minh nhân dân và ảnh chân dung của P cho H1 để làm 02 chứng chỉ vận hành xe nâng và vận hành cẩu trục mang tên anh P. H1 gửi thông tin cá nhân của anh P qua Zalo cho Nguyễn Văn C, đồng thời cung cấp địa chỉ người nhận hàng là “Trương Thị H1, Công ty TNHH C1, Văn A, Chí L3, Hải Dương, số điện thoại 0702.287.xxx”. Ngày 21/11/2021, H1 nhận được 01 chứng chỉ vận hành xe nâng và 01 chứng chỉ vận hành cẩu trục của Trường K mang tên Nguyễn Hữu P qua dịch vụ chuyển phát nhanh và thanh toán số tiền 2.000.000 đồng/02 chứng chỉ, sau đó đưa 02 chứng chỉ này cho T lưu hồ sơ công nhân, không sử dụng vào việc gì khác. T chỉ đạo bộ phận kế toán thanh toán tiền cho H1 và không nói cho P biết việc mua chứng chỉ.
- Hành vi làm giả chứng chỉ vận hành thiết bị nâng (xe nâng) mang tên Nguyễn Văn T4 và Trần Đình Q của Đỗ Thành L1 và Nguyễn Văn T4:
Nguyễn Văn T4 và Đỗ Thành L1 là anh em cọc chèo (vợ của T4 là chị gái vợ của L1). Khoảng tháng 5/2021, T4 nhờ L1 đặt mua giúp 01 chứng chỉ vận hành xe nâng để đi xin việc khi cần. L1 lên mạng Internet tìm kiếm thì thấy bài quảng cáo của Trường K có kèm theo số điện thoại nên đã nhắn tin để trao đổi, được biết nếu đã có tay nghề rồi thì chỉ cần gửi ảnh chân dung, ảnh chụp chứng minh nhân dân hoặc căn cước công dân và cấp chứng chỉ luôn, không cần đào tạo, sát hạch, với chi phí 1.200.000đồng/chứng chỉ. L1 nói lại với T4 và T4 đồng ý. L1 đã gửi các thông tin của T4 theo yêu cầu qua Zalo của Nguyễn Văn C, kèm theo địa chỉ nhận hàng là Thôn B, xã C, huyện T, TP Hải Phòng, số điện thoại nhận hàng là 0936.706.xxx. Sau khoảng vài giờ, C gửi lại cho L1 ảnh chụp chứng chỉ vận hành xe nâng mang tên Nguyễn Văn T4 để L1 kiểm tra thông tin và xác nhận đúng. Khoảng 2 ngày sau, L1 nhận được 01 chứng chỉ vận hành xe nâng của Trường K mang tên Nguyễn Văn T4 qua dịch vụ chuyển phát. L1 thanh toán tiền mặt 1.200.000đồng cho người giao hàng, rồi mang chứng chỉ về đưa cho T4, nhận lại 1.200.000đồng do T4 trả. L1 không hưởng lợi, không biết người bán chứng chỉ là ai, ở đâu. Đến tháng 7/2021, T4 tiếp tục nhờ L1 mua 01 chứng chỉ vận hành xe nâng cho bạn tên Trần Đình Q (sinh năm 1984, trú tại KDC M, phường Đ, TP C). L1 tiếp tục liên lạc lại với Nguyễn Văn C để đặt mua 01 chứng chỉ vận hành xe nâng của Trường K mang tên Trần Đình Q như đã đặt mua cho T4, với giá 1.200.000đồng. Khoảng 01 đến 02 ngày sau, L1 nhận chứng chỉ từ dịch vụ giao hàng V1 và đưa cho T4, T4 đưa chứng chỉ cho Q và nhận lại 1.200.000đồng. L1, T4 không hưởng lợi. T4 và Q sau khi nhận chứng chỉ không sử dụng vào việc gì.
Dữ liệu cấp chứng chỉ của Trường K tại website: http://quanly.nlts.com thể hiện: 02 chứng chỉ mang tên Nguyễn Hữu P cấp ngày 21/11/2021, 01 chứng chỉ mang tên Nguyễn Văn T4 cấp ngày 30/6/2021 và 01 chứng chỉ mang tên Trần Đình Q cấp ngày 13/7/2021.
Dữ liệu quản lý vận đơn trên website Viettelpost.vn thể hiện: Có 01 vận đơn số 1667416870714 ngày 22/11/2021 được gửi đến người nhận tên “Trương Hằng”, địa chỉ Công ty TNHH C1, phía bắc quốc lộ A phường V, TP C, số điện thoại 0702.287.xxx; có 01 đơn hàng mã số 1653297161173 gửi đến địa chỉ Đỗ Thành L1, số điện thoại 0936.706.xxx, Công ty R nhà M- Hải Phòng.
Hành vi của Mai Ngọc V cùng đồng phạm đã bị khởi tố, xét xử về các tội “Giả mạo trong công tác” và “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”, quy định tại các Điều 341 và 359 Bộ luật Hình sự.
Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ 04 chứng chỉ, hiện lưu bản gốc trong hồ sơ vụ án Mai Ngọc V cùng đồng phạm đã xét xử ngày 13/6/2023.
Tại Cáo trạng số 63/CT-VKSHD-P2 ngày 16/7/2024, Viện kiểm sát nhân tỉnh Hải Dương truy tố các bị cáo Tống Thanh T, Trương Thị H1, Đỗ Thành L1 và Nguyễn Văn T4 về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”, quy định tại điểm c khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Các bị cáo thừa nhận hành vi đã thực hiện như Bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo T và H1 cung cấp ảnh và thông tin của Nguyễn Hữu P để mua 02 chứng chỉ gồm 01 chứng chỉ vận hành xe nâng và 01 chứng chỉ vận hành cẩu trục của Trường K mang tên Nguyễn Hữu P; Bị cáo L1 và T4 cung cấp ảnh và thông tin của T4 và Trần Đình Q để mua 02 chứng chỉ gồm chứng chỉ vận hành xe nâng mang tên Nguyễn Văn T4 và 01 chứng chỉ vận hành xe nâng mang tên Trần Đình Q của Trường K trong khi bị cáo T4, anh P và anh Q đều không qua đào tạo, sát hạch theo quy định. Các bị cáo thiếu hiểu biết về pháp luật, mục đích là mua các chứng chỉ để hoàn thiện hồ sơ cho công nhân hoặc để tìm kiếm công việc làm nuôi sống bản thân. Các bị cáo đều không được hưởng lợi và không sử dụng các giấy tờ giả đã mua vào việc phạm tội. Hoàn cảnh gia đình các bị cáo đều rất khó khăn. Các bị cáo đều xác định không bị oan và rất ân hận về hành vi của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 341, điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố các bị cáo Tống Thanh T, Trương Thị H1, Đỗ Thành L1 và Nguyễn Văn T4 phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Xử phạt các bị cáo Tống Thanh T, Trương Thị H1, Đỗ Thành L1 và Nguyễn Văn T4 mỗi bị cáo từ 24 đến 27 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 đến 54 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao các bị cáo cho UBND xã, phường nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về vật chứng: Không xem xét, giải quyết. Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan điều tra, truy tố trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của chính các bị cáo tại cơ quan điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của Nguyễn Văn C, các chứng chỉ đã thu giữ, phù hợp Dữ liệu được in ra từ trang web quanly.nlts.vn của Trường K, dữ liệu quản lý vận đơn trên website Viettelpost.vn và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
[2.1] Tháng 11/2021, nhằm mục đích hoàn thiện hồ sơ công nhân, tại Công ty TNHH C1, địa chỉ: V, Chí L3, Hải Dương, Tống Thanh T và Trương Thị H1 đã cung cấp ảnh chân dung, thông tin cá nhân của anh Nguyễn Hữu P cho Nguyễn Văn C - Phó hiệu trưởng Trường K để C cùng các nhân viên của T5 này làm, bán cho T, H1 02 chứng chỉ nghề vận hành thiết bị nâng và cẩu trục mang tên Nguyễn Hữu P không qua đào tạo, sát hạch với giá 2.000.000đồng/2 chứng chỉ.
[2.2] Tháng 6 và 7/2021, nhằm mục đích có chứng chỉ nghề để khi cần thì nộp xin việc, Nguyễn Văn T4 đã cung cấp ảnh chân dung, ảnh căn cước công dân của T4 và bạn là Trần Đình Q, nhờ Đỗ Thành L1 mua hộ chứng chỉ nghề vận hành thiết bị xe nâng mà không cần phải học. L1 đã cung cấp ảnh chân dung, thông tin cá nhân của T4 và anh Q cho Nguyễn Văn C để C cùng các nhân viên của T5 Kinh tế kỹ thuật T làm, bán cho L1 02 chứng chỉ nghề vận hành thiết bị xe nâng mang tên Nguyễn Văn T4 và Trần Đình Q không qua đào tạo, sát hạch với giá 2.400.000đồng/2 chứng chỉ.
[3]. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý hành chính, hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý nhà nước về tài liệu. Các bị cáo Tống Thanh T, Trương Thị H1, Đỗ Thành L1 và Nguyễn Văn T4 đều là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được việc những người có tên trong các chứng chỉ mua của T5 Trường K đều không được đào tạo, sát hạch trên thực tế nhưng các bị cáo vẫn cung cấp thông tin, ảnh, căn cước công dân để C cùng các nhân viên của trường này làm, bán cho các bị cáo các chứng chỉ giả. Do đó, các bị cáo là đồng phạm với vai trò giúp sức trong tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức. Mục đích của các bị cáo H1 và T để hoàn thiện hồ sơ công nhân, mục đích của T4 để khi cần thì nộp xin việc. Bị cáo Tống Thanh T và Trương Thị H1 mua 02 chứng chỉ không qua đào tạo, sát hạch. Bị cáo Nguyễn Văn T4 và Đỗ Thành L1 mua 02 chứng chỉ không qua đào tạo. Vì vậy, hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức quy định tại điểm c khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.
[4]. Các bị cáo đều có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội; không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa đã thành khẩn khai nhận hành vi của mình, tỏ thái độ thực sự ăn năn hối cải; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo T và H1 nộp nhiều quỹ ủng hộ tại địa phương; Bị cáo T được Công ty nơi làm việc khen thưởng danh hiệu nhân viên xuất sắc; Bố đẻ bị cáo T4 được tặng huy hiệu Vì nghĩa vụ quốc tế. Bị cáo T4, L1 trực tiếp tham gia công tác phòng chống dịch tại địa phương (được địa phương xác nhận). Do đó, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, nguyên nhân điều kiện phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy động cơ làm giả tài liệu của các bị cáo chỉ để hoàn thiện hồ sơ công nhân, để khi cần thì nộp xin việc; đều là những người lao động, không được hưởng lợi từ hành vi phạm tội. Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, ngoài lần vi phạm này thì bị cáo chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân nơi cư trú; có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo. Do đó, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết cách ly các bị cáo khỏi xã hội mà cho cải tạo tại địa phương cũng đảm bảo cải tạo giáo dục bị cáo mà không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội đồng thời thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều là nhân viên, công nhân của các công ty hoặc chưa có việc làm nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với tất cả các bị cáo.
[7] Về vật chứng: Đối với 04 chứng chỉ, hiện lưu bản gốc trong hồ sơ vụ án Mai Ngọc V cùng đồng phạm đã xét xử ngày 13/6/2023 nên không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
[8] Các vấn đề khác:
[8.1]. Đối với hành vi của Mai Ngọc V, Nguyễn Văn C và các nhân viên Trường K đã bị xét xử phúc thẩm tại Bản án số 04 ngày 04/01/2024, hiện đang chấp hành bản án nên không xem xét trong vụ án này.
[8.2]. Đối với anh Nguyễn Hữu P không biết việc T, H1 đặt mua chứng chỉ để hoàn thiện hồ sơ nên không đặt ra xử lý. Đối với anh Trần Đình Q nhờ T4, L1 mua hộ 01 chứng chỉ, xét tính chất, mức độ của hành vi, Cơ quan ANĐT Công an tỉnh H đã có văn bản đề nghị xử lý vi phạm hành chính là phù hợp.
[9] Do các bị cáo bị phạt tù cho hưởng án treo nên cần hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với cả bốn bị cáo theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[10] Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQG14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố: Các bị cáo Tống Thanh T, Trương Thị H1, Đỗ Thành L1 và Nguyễn Văn T4 phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
- Căn cứ: Điểm c khoản 2 Điều 341, điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17; Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQG14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Hình phạt chính:
- Xử phạt bị cáo Tống Thanh T 24 (hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Tống Thanh T cho UBND phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Xử phạt bị cáo Trương Thị H1 24 (hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Trương Thị H1 cho UBND phường Q, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Xử phạt bị cáo Đỗ Thành L1 24 (hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Đỗ Thành L1 cho UBND xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T4 24 (hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Văn T4 cho UBND phường Đ, thành phố C, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về án phí: Buộc các bị cáo Tống Thanh T, Trương Thị H1, Đỗ Thành L1 và Nguyễn Văn T4 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thúy Hằng |
Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 60/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tống Thanh Th + Đp
