Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 60/2023/KDTM- ST

Ngày: 15/8/2023

V/v: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Hoài.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Võ Văn Tốt.
  2. Ông Nguyễn Văn Quản.

- Thư ký phiên tòa:

Ông Nguyễn Mạnh Khôi – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 tham gia phiên tòa:

Bà Lường Thị Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 29/2022/TLST-KDTM ngày 08/4/2022 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 488/2023/QĐXXST-KDTM ngày 21 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 873/2023/QĐST- DS ngày 20 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng (sau đây gọi là VPBank);

Địa chỉ trụ sở chính: 89 đường Láng Hạ, phường Láng Hạ, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội;

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim Oanh, sinh năm 1996; ông Phạm Doãn Cường; địa chỉ: Tầng 1, Tòa nhà ACM, số 96 Cao Thắng, Phường 4, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh- là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 22/4/2023); (Có mặt)

Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Sản xuất Thương mại Dịch vụ Phú Tiến Phát;

Địa chỉ: 55 Khu phố 5, đường TA 22, phường Thới An, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh;

Đại diện theo pháp luật của công ty: Ông Lăng Văn Tuân; chức vụ: Giám đốc; địa chỉ: Xóm La Thành, xã Tiến Thắng, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang; (vắng mặt)

- Người có nghĩa vụ và quyền lợi liên quan: Ông Lăng Văn Tuân; sinh năm 1989;

Địa chỉ: Xóm La Thành, xã Tiến Thắng, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.(vắng mặt).

mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 21 tháng 3 năm 2022 và trong quá trình giải quyết, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phạm Doãn Cường trình bày:

Ngày 05/12/2017, Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ Phú Tiến Phát (sau đây gọi là Công ty Phú Tiến Phát) có ký với VPBank – Chi Nhánh Thành phố Hồ Chí Minh hợp đồng cho vay số SME/HCM/17/0211/HDTD. Theo Khế ước nhận nợ Lần: 01/SỐ: SME/HCM/17/0211/HDTD-01 ngày 06/12/2017, VPBank giải ngân cho Công ty Phú Tiến Phát vay số tiền là 559.000.000 đồng (Năm trăm năm mươi chín triệu đồng), mục đích vay mua xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet, số loại Cruze, 5 chỗ ngồi, mới 100%. Thời hạn vay 60 tháng, lãi suất cho vay 8,3%/năm cố định 12 tháng, sau đó lãi suất được điều chỉnh bằng Lãi suất tiết kiệm thường tại quầy kỳ hạn 12 tháng trả lãi cuối kỳ đối với mức tiền gửi tiết kiệm thấp nhất tại thời điểm điều chỉnh + 4%/ năm.

Ngoài ra, theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế không có tài sản bảo đảm ngày 16/01/2018 giữa Công ty Phú Tiến Phát và VPBank thì Công ty Phú Tiến Phát có khoản nợ thẻ tín dụng. Số tiền được cấp hạn mức là 55.900.000 đồng.

Để bảo đảm cho khoản vay trên, VPBank và các bên đã thống nhất áp dụng các biện pháp bảo đảm sau:

  • Thế chấp 1 xe ô tô con, nhãn hiệu Chevrolet, số khung: RLLJF696EHH948774, số máy: F16D3172440394, số loại Cruze, biển số 51G-124.18, thuộc quyền sở hữu/sử dụng của Công ty Phú Tiến Phát theo giấy đăng ký xe ô tô số 329128 do Phòng Cảnh sát Giao thông Công an thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 04/12/2017.
  • Việc thế chấp và nhận thế chấp tài sản nêu trên được thực hiện đúng quy định của pháp luật, theo Hợp đồng thế chấp xe Ô tô số: SME/HCM/17/0211 /HDTC ngày 05/12/2017 giữa VPBank Chi nhánh Hồ Chí Minh và Công ty Phú Tiến Phát và Chứng nhận đăng ký giao dịch bảo số 1271211241 của Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 6/12/2017.
  • Bảo lãnh vô điều kiện và không hủy ngang bằng toàn bộ tài sản cá nhân của ông Lăng Văn Tuân theo Hợp đồng bảo lãnh số: SME/HCM/17/0211/HDBL ngày 5/12/2017.

Trong quá trình vay vốn tại VPBank, Công ty Phú Tiến Phát đã thanh toán cho VPBank tổng số tiền là 484.655.201 đồng (trong đó nợ gốc đã trả là 371.578.276 đồng và nợ lãi đã trả là 113.076.925 đồng).

Kể từ thời điểm thanh toán nợ cuối cùng đến nay, Công ty Phú Tiến Phát đã không hợp tác tiếp tục thanh toán nợ cho VPBank.

Khoản nợ của Công ty Phú Tiến Phát quá hạn kể từ ngày 25/9/2020.

Tạm tính đến hết ngày 15/08/2023 số tiền Công ty Phú Tiến Phát còn nợ VPBank là 384.955.534 đồng (Ba trăm tám mươi bốn triệu chín trăm năm mươi lăm ngàn năm trăm ba mươi bốn đồng), trong đó:

  • Đối với khoản vay theo khế ước nhận nợ Lần: 01/Số: SME/HCM/17/0211/HDTD-01 ngày 06/12/2017, số tiền nợ là: 280.077.157 đồng, gồm: Nợ gốc: 187.421.724 đồng; nợ lãi quá hạn: 80.307.949 đồng; nợ lãi phạt chậm trả: 12.347.484 đồng;
  • Đối với khoản nợ thẻ theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế không có tài sản bảo đảm ngày 16/01/2018, số tiền nợ là 104.878.377 đồng, gồm: Nợ gốc quá hạn: 30.860.743 đồng; nợ lãi quá hạn: 74.017.634 đồng.

Nay VPBank buộc Công ty Phú Tiến Phát có trách nhiệm thanh toán ngay một lần toàn bộ khoản nợ còn thiếu trên.

Ngoài ra, kể từ ngày 16/08/2023, Công ty Phú Tiến Phát vẫn phải tiếp tục chịu lãi quá hạn, lãi phạt chậm trả theo các Hợp đồng tín dụng đã ký nêu trên cho tới khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho VPBank.

Trường hợp Công ty Phú Tiến Phát không thanh toán theo yêu cầu nêu trên, VPBank có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho VPBank.

Trường hợp Công ty Phú Tiến Phát không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ thì yêu cầu bên bảo lãnh là ông Lăng Văn Tuân có trách nhiệm thanh toán toàn bộ khoản vay theo các hợp đồng bảo lãnh đã ký.

Tại phiên toà, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phạm Doãn Cường giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Đối với bị đơn Công ty Phú Tiến Phát do ông Lăng Văn Tuân là người đại diện theo pháp luật, đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập đương sự tham gia tố tụng theo quy định; nhưng bị đơn Công ty Phú Tiến Phát và người đại diện theo pháp luật của bị đơn cũng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lăng Văn Tuân vắng mặt không có lý do, không thể hiện ý kiến của mình bằng bất cứ văn bản nào nên vụ án không tiến hành hòa giải được và được đưa ra xét xử công khai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên có vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử cần rút kinh nghiệm. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc Công ty Phú Tiến Phát có trách nhiệm thanh toán ngay toàn bộ khoản nợ còn thiếu, tạm tính đến hết ngày 15/08/2023 là 384.955.534 đồng (Ba trăm tám mươi bốn triệu chín trăm năm mươi lăm ngàn năm trăm ba mươi bốn đồng), trong đó:

  • Đối với khoản vay theo khế ước nhận nợ Lần: 01/Số: SME/HCM/17/0211/HDTD-01 ngày 06/12/2017, số tiền nợ là: 280.077.157 đồng, gồm: Nợ gốc: 187.421.724 đồng; nợ lãi quá hạn: 80.307.949 đồng; nợ lãi phạt chậm trả: 12.347.484 đồng;
  • Đối với khoản nợ thẻ theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế không có tài sản bảo đảm ngày 16/01/2018, số tiền nợ là 104.878.377 đồng, gồm: Nợ gốc quá hạn: 30.860.743 đồng; nợ lãi quá hạn: 74.017.634 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng:
    1. [1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn Sản xuất Thương mại Dịch vụ Phú Tiến Phát có trụ sở tại địa chỉ số 55 Khu phố 5, đường TA 22, phường Thới An, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
    2. [1.2] Về thủ tục xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Tại phiên tòa, bị đơn Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ Phú Tiến Phát và người đại diện theo pháp luật của bị đơn cũng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lăng Văn Tuân vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
  2. Về nội dung: Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử nhận thấy:
    1. [2.1] Căn cứ Hợp đồng cho vay hạn mức số SME/HCM/17/0211/HDTD ngày 05/12/2017; phụ lục hợp đồng số SME/HCM/17/0211/HDTD ngày 05/12/2017; Hợp đồng thế chấp xe Ô tô số: SME/ HCM/17/0211 /HDTC ngày 05/12/2017 và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế không có tài sản bảo đảm ngày 16/01/2018 giữa VPBank Chi nhánh Hồ Chí Minh và Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ Phú Tiến Phát có cơ sở xác định giữa nguyên đơn và bị đơn có giao dịch dân sự vay tài sản. Nội dung mà các bên thỏa thuận trong các hợp đồng là tự nguyện và phù hợp với các quy định của pháp luật tại Điều 117, Điều 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 đã sửa đổi, bổ sung và Điều 23 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.
    2. [2.2] Bị đơn Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ Phú Tiến Phát khi thực hiện hợp đồng đã thanh toán được một phần gốc và lãi thì vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng cho vay hạn mức số SME/HCM/17/0211/HDTD ngày 05/12/2017 và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế không có tài sản bảo đảm ngày 16/01/2018 mà hai bên đã ký, cụ thể: Công ty Phú Tiến Phát đã thanh toán cho VPBank tổng số tiền là 484.655.201 đồng (trong đó nợ gốc đã trả là 371.578.276 đồng và nợ lãi đã trả là 113.076.925 đồng). Kể từ thời điểm thanh toán nợ cuối cùng đến nay, Công ty Phú Tiến Phát đã không hợp tác tiếp tục thanh toán nợ cho VPBank. Khoản nợ của Công ty Phú Tiến Phát quá hạn kể từ ngày 25/9/2020.

      Do đó, tạm tính đến ngày 15/08/2023 số tiền Công ty Phú Tiến Phát còn nợ VPBank là 384.955.534 đồng (Ba trăm tám mươi bốn triệu chín trăm năm mươi lăm ngàn năm trăm ba mươi bốn đồng), trong đó:

      • Đối với khoản vay theo khế ước nhận nợ Lần: 01/Số: SME/HCM/17/0211/HDTD-01 ngày 06/12/2017, số tiền nợ là: 280.077.157 đồng, gồm: Nợ gốc: 187.421.724 đồng; nợ lãi quá hạn: 80.307.949 đồng; nợ lãi phạt chậm trả: 12.347.484 đồng;
      • Đối với khoản nợ thẻ theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế không có tài sản bảo đảm ngày 16/01/2018, số tiền nợ là 104.878.377 đồng, gồm: Nợ gốc quá hạn: 30.860.743 đồng; nợ lãi quá hạn: 74.017.634 đồng.

      Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng yêu cầu Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ Phú Tiến Phát thanh toán một lần toàn bộ số tiền còn nợ nêu trên và tiền lãi phát sinh tính từ 16/8/2023, cho đến khi Công ty Phú Tiến Phát thanh toán xong các khoản nợ theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín vay vốn và hợp đông sử dụng thẻ tín dụng đã ký là phù hợp và đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 91, 95 và Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; các Điều 23 và Điều 25 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng nên Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận.

    3. [2.3] Về tài sản thế chấp: Để đảm bảo khoản tiền vay, Công ty Phú Tiến Phát đã thế chấp xe ô tô con, nhãn hiệu Chevrolet,, số khung: RLLJF696EHH948774, số máy: F16D3172440394, số loại Cruze, biển số 51G-124.18, thuộc quyền sở hữu/sử dụng của Công ty Phú Tiến Phát theo giấy đăng ký xe ô tô số 329128 do Phòng Cảnh sát Giao thông Công an thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 04/12/2017 cho Ngân hàng, hai bên đã ký kết Hợp đồng thế chấp xe Ô tô số: SME/ HCM/17/0211 /HDTC ngày 05/12/2017 giữa VPBank Chi nhánh Hồ Chí Minh và Công ty Phú Tiến Phát và Chứng nhận đăng ký giao dịch bảo số 1271211241 của Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 6/12/2017. Việc đăng ký giao dịch bảo đảm và thế chấp tài sản đã được các bên thực hiện đúng theo quy định của pháp luật nên được pháp luật bảo vệ. Do đó, trong trường Công ty Phú Tiến Phát không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành xử lý tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ theo quy định tại Điều 355 của Bộ luật Dân sự năm 2005.
    4. [2.4] Căn cứ vào Hợp đồng bảo lãnh số: SME/HCM/17/0211/HDBL ngày 5/12/2017 được ký giữa bên bảo lãnh là ông Lăng Văn Tuân và bên nhận bảo lãnh là VPBank thì bên bảo lãnh đồng ý bằng toàn bộ tài sản của mình, bảo lãnh vô điều kiện và không hủy ngang cho bên được bảo lãnh (Công ty Phú Tiến Phát) trong việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ hiện tại và nghĩa vụ trong tương lai bao gồm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi, các khoản phí, các khoản phạt, các khoản bồi thường thiệt hại và tất cả nghĩa vụ tài chính khác của bên được bảo lãnh đối với bên nhận bảo lãnh phát sinh từ tất cả các hợp đồng vay được ký kết giữa bên được bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh. Do đó, căn cứ Điều 342 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định “Trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ đó” yêu cầu của nguyên đơn về việc trường hợp Công ty Phú Tiến Phát không thanh toán hoặc thanh toán không đủ số tiền nợ vay, bên bảo lãnh là ông Lăng Văn Tuân có trách nhiệm thanh toán toàn bộ khoản vay theo hợp đồng bảo lãnh nêu trên là có căn cứ và được chấp nhận.
    5. [2.5] Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử nhận thấy có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ Phú Tiến Phát phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng số tiền nợ vay tính đến ngày 15/08/2023 là 384.955.534 đồng (Ba trăm tám mươi bốn triệu chín trăm năm mươi lăm ngàn năm trăm ba mươi bốn đồng), trong đó:
      • Đối với khoản vay theo khế ước nhận nợ Lần: 01/Số: SME/HCM/17/0211/HDTD-01 ngày 06/12/2017, số tiền nợ là: 280.077.157 đồng, gồm: Nợ gốc: 187.421.724 đồng; nợ lãi quá hạn: 80.307.949 đồng; nợ lãi phạt chậm trả: 12.347.484 đồng;
      • Đối với khoản nợ thẻ theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế không có tài sản bảo đảm ngày 16/01/2018, số tiền nợ là 104.878.377 đồng, gồm: Nợ gốc quá hạn: 30.860.743 đồng; nợ lãi quá hạn: 74.017.634 đồng.

      Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ Phú Tiến Phát vẫn phải tiếp tục chịu lãi quá hạn theo hợp đồng tín dụng đã ký cho tới khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng.

      Trường hợp Công ty Phú Tiến Phát không thanh toán theo yêu cầu nêu trên, VPBank có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là xe ô tô con, nhãn hiệu Chevrolet, số khung: RLLJF696EHH948774, số máy: F16D3172440394, số loại Cruze, biển số 51G-124.18, thuộc quyền sở hữu/sử dụng của Công ty Phú Tiến Phát theo giấy đăng ký xe ô tô số 329128 do Phòng Cảnh sát Giao thông Công an thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 04/12/2017 để thu hồi nợ cho VPBank.

      Số tiền phát mãi tài sản sau khi đã trừ các chi phí liên quan đến việc phát mãi sẽ được thanh toán và chi trả theo quy định của pháp luật. Nếu sau khi trả hết nợ cho Ngân hàng mà số tiền phát mãi đối với tài sản thế chấp còn dư thì sẽ được trả lại cho chủ sở hữu của tài sản thế chấp. Nếu số tiền phát mãi tài sản không đủ để trả nợ thì bên bảo lãnh là ông Lăng Văn Tuân có trách nhiệm thanh toán toàn bộ khoản vay theo các hợp đồng bảo lãnh số SME/HCM/17/0211/HDBL ngày 5/12/2017.

    6. [3] Về án phí và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Căn cứ theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dung án phí và lệ phí Tòa án thì Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ Phú Tiến Phát phải chiụ án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là: 19.247.777 đồng (Mười chín triệu hai trăm bốn mươi bảy nghìn bảy trăm bảy mươi bảy đồng).

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng). Số tiền này nguyên đơn đã nộp tạm ứng nên bị đơn phải hoàn trả lại cho Ngân hàng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 30, điểm b Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147; Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228, Điều 271, Khoản 1 Điều 273 Bộ Luật tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 117; Điều 335; Điều 336; khoản 1 Điều 339; Điều 342; Điều 463 và khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;
  2. Buộc Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ Phú Tiến Phát phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng số tiền nợ tính đến ngày 15/08/2023 là 384.955.534 đồng (Ba trăm tám mươi bốn triệu chín trăm năm mươi lăm ngàn năm trăm ba mươi bốn đồng), trong đó:

    • Đối với khoản vay theo khế ước nhận nợ Lần: 01/Số: SME/HCM/17/0211/HDTD-01 ngày 06/12/2017, số tiền là: 280.077.157 đồng, gồm: Nợ gốc: 187.421.724 đồng; nợ lãi quá hạn: 80.307.949 đồng; nợ lãi phạt chậm trả: 12.347.484 đồng;
    • Đối với khoản nợ thẻ theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế không có tài sản bảo đảm ngày 16/01/2018, số tiền là 104.878.377 đồng, gồm: Nợ gốc quá hạn: 30.860.743 đồng; nợ lãi quá hạn: 74.017.634 đồng.

    Trả ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

  3. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm bị đơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
  4. Trường hợp Công ty Phú Tiến Phát không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì VPBank có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là xe ô tô con, nhãn hiệu Chevrolet, số khung: RLLJF696EHH948774, số máy: F16D3172440394, số loại Cruze, biển số 51G-124.18, thuộc quyền sở hữu/sử dụng của Công ty Phú Tiến Phát theo giấy đăng ký xe ô tô số 329128 do Phòng Cảnh sát Giao thông Công an thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 04/12/2017 để thu hồi nợ cho VPBank.
  5. Số tiền phát mãi tài sản sau khi đã trừ các chi phí liên quan đến việc phát mãi sẽ được thanh toán và chi trả theo quy định của pháp luật. Nếu sau khi trả hết nợ cho Ngân hàng mà số tiền phát mãi đối với tài sản thế chấp còn dư thì sẽ được trả lại cho chủ sở hữu của tài sản thế chấp. Nếu số tiền phát mãi tài sản không đủ để trả nợ thì bên bảo lãnh là ông Lăng Văn Tuân có trách nhiệm thanh toán toàn bộ khoản vay theo các hợp đồng bảo lãnh số SME/HCM/17/0211/HDBL ngày 5/12/2017.

    Trong trường hợp bị đơn thanh toán xong số nợ cho Ngân hàng mà không phải phát mãi tài sản đã thế chấp để trả nợ thì Ngân hàng có nghĩa vụ thực hiện xóa thế chấp và trả lại bản chính giấy chứng nhận chủ sở hữu đối với tài sản thế chấp cho bị đơn.

  6. Về án phí và chi phí xem xset thẩm định tại chỗ: Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ Phú Tiến Phát phải chiụ án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là: 19.247.777 đồng (Mười chín triệu hai trăm bốn mươi bảy nghìn bảy trăm bảy mươi bảy đồng), nộp tại Chi cục thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
  7. Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí 7.516.040 đồng (bảy triệu năm trăm mười sáu nghìn không trăm bốn mươi đồng) cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0022460 ngày 06/4/2022 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Buộc Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ Phú Tiến Phát có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng số tiền xem xét, thẩm định tại chỗ là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).

  8. Các quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự được thực hiện tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
  9. Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
  10. Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Thị Hoài

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2023/KDTM- ST ngày 15/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 60/2023/KDTM- ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2023
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger