|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 60/2024/HNGĐ-ST Ngày: 15 – 7 – 2024 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Á
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Trần Văn Thanh
- Bà Nguyễn Hoa Lài
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Tuấn Vũ – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền T - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 51/2024/TL.ST-HNGĐ, ngày 28 tháng 3 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 100/2024/QĐST-HNGĐ ngày 27/6/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1987; địa chỉ: Ấp N, thị trấn M, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt
2. Bị đơn: Bà Phạm Thị Kim N, sinh năm 1990; địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T1 trình bày:
Trước đây, ông và bà Phạm Thị Kim N có quen biết, sau thời gian tìm hiểu thì tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện C, tỉnh Hậu Giang vào năm 2009. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không còn tình cảm, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng hiện cũng đã sống ly thân. Nhận thấy không thể hàn gắn được tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông yêu cầu được ly hôn với bà N.
Về con chung: Có 02 con chung là cháu Nguyễn Thanh P (nam), sinh ngày 28/8/2009 và cháu Nguyễn Ngọc Gia H (nữ), sinh ngày 03/6/2016, hiện đang sống chung với ông. Ông yêu cầu được nuôi dưỡng các cháu đến khi thành niên và không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Quá trình tố tụng tại Tòa án, bà Phạm Thị Kim N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên chưa ghi nhận được ý kiến.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Xác định việc thụ lý, hòa giải, thu thập chứng cứ cũng như thủ tục tố tụng tại phiên tòa của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của pháp luật, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Thanh T1 được ly hôn với bà Phạm Thị Kim N; Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thanh P (nam), sinh ngày 28/8/2009 và cháu Nguyễn Ngọc Gia H (nữ), sinh ngày 03/6/2016 cho ông T1 nuôi dưỡng đến khi thành niên, bà N chưa có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét. Về án phí: Đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ông Nguyễn Thanh T1 khởi kiện đối với bà Phạm Thị Kim N yêu cầu được ly hôn và nuôi con chung nên xác định là tranh chấp ly hôn, nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà N cư trú tại huyện C, tỉnh Hậu Giang nên theo quy định tại Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn bà Phạm Thị Kim N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do, ông Nguyễn Thanh T1 có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với các đương sự.
[3] Về nội dung giải quyết vụ án:
[3.1] Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Ông Nguyễn Thanh T1 và bà Phạm Thị Kim N đã tự nguyện tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện C, tỉnh Hậu Giang vào năm 2009. Hôn nhân giữa ông T1, bà N là tự nguyện, đảm bảo điều kiện kết hôn và không bị ép buộc, không thuộc trường hợp cấm kết hôn nên hôn nhân là hợp pháp.
Quá trình chung sống giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, ông T1 cho rằng nguyên nhân là do vợ chồng không còn tình cảm, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng hiện cũng đã sống ly thân.
Đối với bà N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để hòa giải đoàn tụ cho các bên nhưng vẫn không đến, thể hiện bà N không có thiện chí hàn gắn tình cảm với ông T1. Đến thời điểm giải quyết vụ án các đương sự vẫn không có biện pháp nào giải quyết mâu thuẫn và đã sống ly thân. Cho thấy, mâu thuẫn hôn nhân của các đương sự là trầm trọng, đời sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận cho ông T1 được ly hôn với bà N.
[3.2] Xét yêu cầu nuôi con chung của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Ông T1 và bà N có 02 con chung là cháu Nguyễn Thanh P (nam), sinh ngày 28/8/2009 và cháu Nguyễn Ngọc Gia H (nữ), sinh ngày 03/6/2016, hiện đang sống chung với ông T1. Cháu P và cháu H có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với ông T1 sau khi cha mẹ ly hôn. Hiện tại vẫn chưa ghi nhận được ý kiến của bà N về vấn đề con chung. Do đó, nhằm ổn định cuộc sống, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng đối với cháu P và H nên giao cháu cho ông T1 nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi. Ông T1 không yêu cầu cấp dưỡng nên bà N chưa có nghĩa vụ cấp dưỡng. Bà N có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được quyền cản trở.
[3.3] Về tài sản chung và nợ chung: Theo ông T1 khai là không có, nhưng do chưa làm việc được với bà N nên chưa xác định được. Do đó, chưa xem xét giải quyết.
[4] Về án phí: Ông Nguyễn Thanh T1 phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
[5] Từ những tình tiết, căn cứ nêu trên, xét yêu cầu của ông T1 cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh T1.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Thanh T1 được ly hôn với bà Phạm Thị Kim N. Giấy chứng nhận kết hôn số 52, ngày 31/7/2009 của Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện C, tỉnh Hậu Giang cấp cho ông T1, bà N không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thanh P (nam), sinh ngày 28/8/2009 và cháu Nguyễn Ngọc Gia H (nữ), sinh ngày 03/6/2016 cho ông Nguyễn Thanh T1 nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Bà Phạm Thị Kim N chưa có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Bà N có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được quyền cản trở.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chưa giải quyết.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Nguyễn Thanh T1 phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng). Chuyển 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí ông T1 đã nộp theo biên lai số 0004461 ngày 28 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành A thành tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm (ông T1 đã nộp xong).
- Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
|
Trần Thị Mỹ Á |
Bản án số 60/2024/HNGĐ-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 60/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LY HÔN
