Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHÚ

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2024/HS-ST

Ngày 15-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Đại
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thanh Lam và ông Phạm Công Gia.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Chuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Thái - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 43/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Trần Ngọc N, sinh năm 1991, tại Đồng Nai.

Nơi cư trú: Ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc T, sinh năm 1964 và bà Trần Thị N1, sinh năm 1967; vợ: Đinh Phạm Thục Đ, sinh năm 1996, con: Có 01 con sinh năm 2017;

Tiền án: 02 tiền án.

Ngày 06/5/2020 Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xử phạt 15 tháng tù về tội trộm cắp tài sản tại bản án số 15/2020/HS-ST.

Ngày 22/11/2022 Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản tại bản án số 123/2022/HS-ST.

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 14/6/2012 Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản tại bản án số 43/2012/HS-ST.

Bị cáo bị bắt khẩn cấp vào ngày 29/12/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T (Có mặt).

Bị hại: Chị Thòng Thị Kiều T1, sinh năm 1998 (Có mặt).

Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Ngọc H, sinh năm 1998 (Có mặt).

Địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Ngọc N là đối tượng có 02 tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội trộm cắp tài sản. Vào sáng ngày 29/12/2023, Trần Ngọc N điều khiển xe mô tô biển số 60F2-118.69 đi đến khu vực ấp B, xã P, huyện T với mục đích trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài. Đến khoảng 08 giờ 49 phút cùng ngày, khi đi đến trước cổng nhà chị Thòng Thị Kiều T1 thuộc ấp B, xã P, huyện T, Trần Ngọc N thấy nhà chị T1 không có người ở nhà, cửa cổng mở, cửa chính nhà đã khóa nên N đi vòng ra phía sau nhà, lấy 01 đoạn sắt phi 10 trong vườn nhà chị T1, N dùng đoạn sắt phá khóa cửa sau nhà của chị T1 rồi đi vào phòng ngủ lấy 01 máy laptop hiệu HP để trên bàn, 01 ba lô màu đen bằng vải có kích thước 45x25cm, 01 con heo đất màu vàng đỏ và 01 con heo bằng nhựa màu vàng để trong tủ quần áo. Sau khi trộm cắp được tài sản, Trần Ngọc N đưa đến khu vực ấp N, xã P, huyện T đập bể con heo đất bên trong có số tiền 9.000.000 đồng và xé rách con heo bằng nhựa màu vàng bên trong có số tiền 2.000.000 đồng, riêng máy tính laptop Năng đưa về nhà tại ấp Đ, xã T, huyện T cất giấu. Số tiền trộm cắp được mà có, Trần Ngọc N mua 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax với số tiền 10.000.000 đồng, mua sữa cho con hết 700.000 đồng, còn lại 300.000 đồng Năng tự nguyện giao nộp sau khi bị bắt, giữ khẩn cấp.

Đến khoảng 18 giờ ngày 29/12/2023, Trần Ngọc N bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Ngọc N và thu giữ 01 máy tính laptop hiệu HP.

Căn cứ kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS ngày 22/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận:

  • - 01 Laptop HP Pavilion model 14-dn20774TU; đã qua sử dụng. Kết luận về giá trị tài sản trên (đã trích khấu hao) là 14.500.000 đồng.
  • - 01 con heo nhựa màu vàng kích thước đường kính 10cm, chiều dài 35cm; đã qua sử dụng. Kết luận về giá trị tài sản trên là 10.000 đồng.
  • - 01 con heo đất màu vàng đỏ kích thước đường kính 30cm, chiều dài 35cm; đã qua sử dụng. Kết luận về giá trị tài sản trên là 50.000 đồng.
  • - 01 Balo màu đen bằng vải có kích thước 45x25cm; đã qua sử dụng . Kết luận về giá trị tài sản trên là 70.000 đồng.

Quá trình điều tra, bị cáo Trần Ngọc N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại bản Cáo trạng số 51/CT-VKSTP-ĐN ngày 09/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú truy tố bị cáo Trần Ngọc N về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa, sau khi phân tích các dấu hiệu phạm tội, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; đặc điểm nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc N phạm tội “Trộm cắp tài sản”, áp dụng: Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Trần Ngọc N từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Thòng Thị Kiều T1 yêu cầu bị cáo Trần Ngọc N bồi thường số tiền 10.700.000 đồng, nhưng bị cáo N chưa bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo N phải bồi thường cho chị T1 theo quy định của pháp luật.

Vật chứng của vụ án:

  • + 01 Laptop HP Pavilion model 14-dn20774TU, 01 ba lô màu đen và số tiền 300.000 đồng là tài sản của chị Thòng Thị Kiều T1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho chị T1.
  • + 01 xe mô tô biển số 60F2-118.69 của anh Trần Ngọc H cho bị can N mượn. Anh H không biết năng sử dụng làm phương tiện phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện đã trả lại cho anh H.
  • + 01 nón bảo hiểm màu đen, 01 áo khoác màu xanh đậm, 01 đôi dép màu vàng, 01 quần thun màu rằn ri của Trần Ngọc N; một số mãnh vỡ con heo đất màu vàng đỏ không còn giá trị sử dụng nên chuyển Tòa án nhân dân huyện xử lý tịch thu tiêu hủy.
  • + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max, số máy MWFC2LL/A, số sê ri FK1C418XN70F do Trần Ngọc N mua từ số tiền do trộm cắp được mà có nên tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Những tình tiết khác: Quá trình điều tra vụ án, chị Thòng Thị Kiều T1 khai nhận bị mất trộm 01 con heo đất màu vàng đỏ bên trong có số tiền khoảng 30.000.000 đồng và 01 con heo bằng nhựa màu vàng bên trong có số tiền khoảng 16.000.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiến hành hỏi cung nhưng bị cáo N chỉ thừa nhận chiếm đoạt 02 con heo bên trong có tổng số tiền 11.000.000 đồng. Ngoài lời khai của chị T1 ra không có tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh số tiền bị mất trộm như lời khai của chị T1 nên không có đủ căn cứ kết luận Trần Ngọc N trộm cắp 02 con heo bên trong có số tiền 46.000.000 đồng.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử quyết định về án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản như Cáo trạng đã mô tả, bị cáo không bào chữa, tranh luận cho hành vi của mình và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về hòa nhập với cộng đồng và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1].Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận:

Trần Ngọc N là đối tượng có 02 tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội trộm cắp tài sản. Vào lúc 08 giờ 49 phút ngày 29/12/2023, tại nhà chị Thòng Thị Kiều T1 thuộc ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Trần Ngọc N đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp 01 máy laptop hiệu HP, 01 ba lô màu đen bằng vải có kích thước 45x25cm, 01 con heo đất màu vàng đỏ bên trong có số tiền 9.000.000 đồng và 01 con heo bằng nhựa màu vàng bên trong có số tiền 2.000.000 đồng của chị Thòng Thị Kiều T1. Tổng tài sản N trộm cắp có trị giá là 25.630.000 đồng.

Như vậy, hành vi của bị cáo Trần Ngọc N đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai.

[3]. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Vì vậy, cần có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi bị cáo thực hiện nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân chấp hành nghiêm pháp luật và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.

[4]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo:

[4.1]. Về tình tiết tăng nặng: Không có.

[4.2]. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

[4.3]. Bị cáo là người có nhân thân xấu.

[5]. Về các biện pháp tư pháp:

[5.1]. Về trách nhiệm dân sự: Chị Thòng Thị Kiều T1 yêu cầu bị cáo Trần Ngọc N phải bồi thường số tiền 10.700.000 đồng. Hội đồng xét xử nhận thấy đây cũng là số tiền mà bị cáo N thừa nhận đã chiếm đoạt của chị T1, hiện nay bị cáo chưa bồi thường cho chị T1, vì vậy Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải bồi thường cho chị T1 số tiền 10.700.000 đồng.

[5.2]. Vật chứng của vụ án:

  • + 01 Laptop HP Pavilion model 14-dn20774TU, 01 ba lô màu đen và số tiền 300.000 đồng là tài sản của chị Thòng Thị Kiều T1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho chị T1 là đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • + 01 xe mô tô biển số 60F2-118.69 của anh Trần Ngọc H cho bị cáo Năng mượn. Anh H không biết năng sử dụng làm phương tiện phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện đã trả lại cho anh H là đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • + Tịch thu tiêu hủy 01 nón bảo hiểm màu đen, 01 áo khoác màu xanh đậm, 01 đôi dép màu vàng, 01 quần thun màu rằn ri của Trần Ngọc N; một số mãnh vỡ con heo đất màu vàng đỏ không còn giá trị sử dụng.
  • + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max, số máy MWFC2LL/A, số sê ri FK1C418XN70F do Trần Ngọc N mua từ số tiền do trộm cắp được mà có nên tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[5.3]. Những tình tiết khác: Quá trình điều tra vụ án, chị Thòng Thị Kiều T1 khai nhận bị mất trộm 01 con heo đất màu vàng đỏ bên trong có số tiền khoảng 30.000.000 đồng và 01 con heo bằng nhựa màu vàng bên trong có số tiền khoảng 16.000.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiến hành hỏi cung nhưng bị can N chỉ thừa nhận chiếm đoạt 02 con heo bên trong có tổng số tiền 11.000.000 đồng. Ngoài lời khai của chị T1 ra không có tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh số tiền bị mất trộm như lời khai của chị T1 nên không có đủ căn cứ kết luận Trần Ngọc N trộm cắp 02 con heo bên trong có số tiền 46.000.000 đồng.

[6]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

[7] Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân và mức hình phạt là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, điểm g, khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
  • - Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
  • - Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 Bộ luật Dân sự;
  • - Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
  1. Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc N phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt bị cáo Trần Ngọc N 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 29/12/2023.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Trần Ngọc N phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho chị Thòng Thị Kiều T1 số tiền 10.700.000 đồng (Mười triệu bảy trăm nghìn đồng).

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  3. Về xử lý vật chứng:
    • + Tịch thu tiêu hủy 01 nón bảo hiểm màu đen, 01 áo khoác màu xanh đậm, 01 đôi dép màu vàng, 01 quần thun màu rằn ri của Trần Ngọc N; một số mãnh vỡ con heo đất màu vàng đỏ không còn giá trị sử dụng.
    • + Tiếp tục tạm giữ 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max, số máy MWFC2LL/A, số sê ri FK1C418XN70F do Trần Ngọc N mua từ số tiền do trộm cắp để đảm bảo thi hành án.

    (Số vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú ngày 14/5/2024).

  4. Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 535.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú;
  • - Công an nhân dân huyện Tân Phú;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Tân Phú;
  • - Bị cáo;
  • - Người bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Bá Đại

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 15/05/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 60/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Ngọc N bị xét xử về tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger