|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 60/2024/HNGĐ-ST Ngày: 14-6-2024 V/v: “Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thành Dương.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Liệu.
- Ông Nguyễn Chánh Bổn.
Thư ký phiên tòa: Ông Quách Kim Lân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Luân - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai, xét xử công khai vụ án thụ lý số 215/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn X, sinh năm: 1959.
- Bị đơn: Bà Hồ Thị X1, sinh năm: 1971.
Địa chỉ: F, tổ A, ấp V, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: Tổ C, ấp G, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
(Nguyên đơn và bị đơn đều có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 11/4/2024; bản tự khai nguyên đơn là ông Nguyễn Văn X trình bày:
- Về hôn nhân: Ông và bà X1 có tổ chức đám cưới và chung sống như vợ chồng từ năm 2000, do không am hiểu về pháp luật và chăm lo làm ăn nên ông và bà X1 không nghĩ đến việc đi đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống đến khoảng năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hợp nhau nên hai vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vả, bất đồng trong cuộc sống. Nay ông nhận thấy tình cảm gia đình không thuận hòa, không thể hàn được vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà X1.
- Về con chung: Ông và bà X1 có 01 con chung tên là Nguyễn Thị Ngọc T, sinh ngày 16/5/2005. Do cháu T đã thành niên và có khả năng lao động nên ông không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo bản tự khai ngày 28/5/2024, bị đơn là bà Hồ Thị X1 trình bày:
- Về hôn nhân: Bà và ông X có tổ chức đám cưới và chung sống như vợ chồng từ năm 2000, do không am hiểu về pháp luật và chăm lo làm ăn nên ông và bà X1 không nghĩ đến việc đi đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hợp nhau nên bất đồng quan điểm sống với nhau, bất đồng quan điểm trong cách nuôi dạy con cái, cuộc sống vợ chồng không hòa thuận với nhau nên hai vợ chồng thường xuyên gây gỗ, cãi nhau, mâu thuẫn ngày càng gay gắt và trở nên trầm trọng. Vì vậy bà đồng ý ly hôn với yêu cầu của ông X.
- Về con chung: Bà và ông X có 01 con chung tên là Nguyễn Thị Ngọc T, sinh ngày 16/5/2005. Do cháu T đã thành niên và có khả năng lao động nên bà không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; về quan hệ pháp luật, xác định tư cách pháp lý của đương sự, thẩm quyền thụ lý của Tòa án, thủ tục thu thập chứng cứ đúng quy định; quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời hạn chuyển hồ sơ, thủ tục cấp tống đạt cho các đương sự đảm bảo theo quy định pháp luật. Các quyền nghĩa vụ của đương sự được đảm bảo thực hiện. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tiến hành tố tụng đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; những người tham gia tố tụng chấp hành đúng pháp luật.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Nguyễn Văn X và bà Hồ Thị X1.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, không giải quyết.
Về án phí: Ông Nguyễn Văn X được miễn án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn bà Hồ Thị X1 hiện cư trú tại ấp G, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Định Quán theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ pháp luật: Ông X yêu cầu khởi kiện ly hôn với bà X1 nên xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn” theo quy định tại Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về xác định tư cách đương sự: Ông Nguyễn Văn X là nguyên đơn; bà Hồ Thị X1 là bị đơn theo Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[4] Về thủ tục tống đạt: Nguyên đơn và bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt vì vậy Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử vắng mặt ông X và bà X1 theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[5] Về quan hệ hôn nhân: Qua lời khai của đương sự và tài liệu, chứng cứ Tòa án thu thập được thể hiện ông X và bà X1 tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2000 cho đến thời điểm hiện nay nhưng không đăng ký kết hôn. Đời sống chung vợ chồng phát sinh mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài. Bà X1 và ông X đều không muốn hàn gắn tình cảm và không tiếp tục sống chung vợ chồng nên cả hai đều có nguyện vọng ly hôn.
Do ông X và bà X1 chung sống như vợ chồng từ năm 2000 đến nay vẫn không đăng ký kết hôn vì vậy Hội đồng xét xử tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Nguyễn Văn X và bà Hồ Thị X1 theo quy định tại Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình.
[6] Về con chung: Ông X và bà X1 có 01 con chung tên là Nguyễn Thị Ngọc T, sinh ngày 16/5/2005. Do cháu T đã thành niên và có khả năng lao động nên ông X và bà X1 không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết
[7] Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không xem xét, không giải quyết.
[8] Về án phí: Ông Nguyễn Văn X chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán là phù hợp với chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 5, 6, 8 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986; Các Điều 9, 14, 15, 53, 131 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ điểm c khoản 3 Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Nguyễn Văn X và bà Hồ Thị X1.
- Về con chung: Do con chung Nguyễn Thị Ngọc T, sinh ngày 16/5/2005 đã thành niên và có khả năng lao động nên Tòa án không xem xét, không giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không xem xét, không giải quyết.
- Về án phí: Ông Nguyễn Văn X được miễn nộp tiền án phí.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận :
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thành Dương |
Bản án số 60/2024/HNGĐ-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn
- Số bản án: 60/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Nguyễn Văn X yêu cầu Tòa án giải quyết Ly hôn với chị Hồ Thị X1
