|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG TỈNH TUYÊN QUANG Bản án số: 60/2024/HS-ST Ngày: 14/6/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Minh Khánh.
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Ma Quốc Thể
- Ông Nguyễn Danh Long
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Thu Hiền - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương tham gia phiên toà: Bà Lương Thị Thu Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 14/6/2024, tại điểm cầu trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang và điểm cầu thành phần phòng xét xử Trại tạm giam Công an tỉnh T, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 58/2024/TLST-HS, ngày 14/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2024/QĐXXST-HS, ngày 03 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:
Trần Văn N, sinh ngày 27/3/1993 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Dân tộc: Cao Lan; Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 08/12; Con ông: Trần Văn T, sinh năm 1957; con bà: Nguyễn Thị M, sinh năm 1959; Vợ: Bùi Thị D (Đã ly hôn); con: có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2019; A, chị, em ruột: Có 08 người, bị cáo là con thứ sáu. Tiền sự: Không;
Tiền án: Tại Bản án số 154 ngày 29/12/2021 của Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 09/6/2022 N đã chấp hành xong hình phạt tù và nộp tiền án phí.
Nhân thân: Tại Bản án số 104 ngày 28/12/2017 của Toà án nhân dân huyện Sơn Dương xử phạt Trần Văn N 07 tháng tù về tội Đánh bạc. Ngày 29/4/2018 N đã chấp hành xong hình phạt tù, N đã chấp hành xong tiền án phí và tiền phạt ngày 21/4/2018.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/3/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Có mặt)
- Người bị hại:
- Anh Phạm Văn S, sinh năm 1989; trú tại: thôn Lập Binh, xã Bình Yên, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. (Vắng mặt).
- Anh Trần Văn P, sinh năm 1960; trú tại: thôn Đ, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Anh Trần Văn C, sinh năm 1984; trú tại: thôn Đ, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Trường S1, sinh năm 1987; trú tại: thôn P, xã P, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. (Vắng mặt).
- Anh Vũ Ngọc H, sinh năm 1977; trú tại: TDP T, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 09/11/2022, Trần Văn N một mình điều khiển xe mô tô (không nhớ biển số) đến nhà rủ Nguyễn Trường S1 đi trộm cắp tài sản lấy tiền chi tiêu cá nhân, S1 đồng ý. Sau đó, N điều khiển xe mô tô cho S1 ngồi phía sau đi đến địa phận thôn L, xã B, huyện S quan sát thấy nhà anh Phạm Văn S không có ai ở nhà nên dừng xe mô tô lại để Sinh vào trộm cắp tài sản, N đứng ở ngoài cảnh giới. Sau đó, S1 đi vào theo đường bên cạnh phía sau nhà đến khu vực để đồ dùng phục vụ làm cơ khí của anh S ở phía sau nhà trộm cắp 01 máy hàn điện màu cam nhãn hiệu Nano Weld, xuất xứ Trung Quốc đi ra chỗ N đứng đợi rồi N điều khiển xe mô tô chở S1 đến bán cho anh Vũ Ngọc H, sinh năm 1977, trú tại tổ dân phố T, thị trấn S, huyện S được số tiền 1.000.000 đồng (khi mua máy hàn điện anh H không biết đó là tài sản do S1 và N trộm cắp mà có) Số tiền 1.000.000 đồng S1 và N đã cùng nhau chi tiêu cá nhân hết.
Tại kết luận định giá tài sản số 80/KL-HĐĐGTSTTHS ngày 29/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện S, kết luận: 01 máy hàn điện nhãn hiệu NANO WELD màu cam. Tính đến thời điểm tháng 11/2022 trị giá 1.600.000 đồng (Một triệu sáu trăm nghìn đồng).
Ngoài hành vi trộm cắp máy hàn điện trên, Trần Văn N còn thực hiện trộm cắp tài sản (gà) trên địa bàn xã H, huyện S, cụ thể như sau:
Khoảng 19 giờ ngày không nhớ rõ của tháng 11/2022 (trước ngày cùng S1 trộm cắp máy hàn khoảng 6-7 ngày), Trần Văn N trộm cắp 03 con gà trống thiến nặng khoảng 03kg/01 con của gia đình ông Trần Văn P, trú tại thôn Đ, xã H, huyện S. Sau khi trộm cắp được, N đi theo đường bê tông đến nhà anh Trần Văn C, sinh năm 1985, trú tại thôn Đ, xã H trộm cắp 04 con gà mái màu đen xám khoảng 1,5kg/con. Sau đó, N mang đến bán cho quán cơm thuộc thôn L, xã S, huyện S được khoảng 800.000 đồng, số tiền N đã sử dụng mua ma túy hết.
Tại kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐGTSTTHS ngày 02/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện S, kết luận: Tổng số gà do N trộm cắp trị giá 1.830.000 đồng.
Sau khi trộm cắp tài sản, Trần Văn N đã bỏ trốn khỏi địa phương. Ngày 29/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã triệu tập và làm việc được với Trần Văn N. Tại Cơ quan điều tra, N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy trong cơ thể đối với N, kết quả (+) Dương tính có chất ma túy trong cơ thể.
Cáo trạng số 61/CT-VKSSD, ngày 13/5/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương đã truy tố Trần Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 173 BLHS. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị:
- Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn N từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù, hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam. Không đề nghị hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Quá trình điều tra tạm giữ 01 máy hàn điện nhãn hiệu Nano Weld, màu sơn cam đã qua sử dụng. Ngày 16/12/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện S đã trả lại cho anh Phạm Văn S là chủ sở hữu hợp pháp.
- Về dân sự: Các bị hại không yêu cầu đề nghị bồi thường.
- Về án phí, quyền kháng cáo: Buộc bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn N thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nội dung bản cáo trạng.
[2] Về tội danh: Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 09/11/2022, tại nhà anh Phạm Văn S, sinh năm 1989, trú tại thôn L, xã B, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Trần Văn N (đã có tiền án về tội Trộm cắp tài sản) và Nguyễn Trường S1 có hành vi trộm cắp máy hàn điện nhãn hiệu NANO WELD màu cam trị giá 1.600.000 đồng (một triệu sáu trăm nghìn đồng).
Ngoài ra, khoảng 19 giờ ngày không nhớ rõ của tháng 11/2022 (trước ngày cùng S1 trộm cắp máy hàn khoảng 607 ngày), Trần Văn N còn trộm cắp 03 con gà trống thiến nặng khoảng 03kg/01 con của gia đình anh Trần Văn C, sinh năm 1984 và 04 con gà mái màu đen xám khoảng 1,5kg/01 con của gia đình ông Trần Văn P, sinh năm 1960, cùng trú tại thôn Đ, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Tổng giá trị gà do N trộm cắp là 1.830.000 đồng (một triệu tám trăm ba mươi nghìn đồng).
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương truy tố Trần Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, lợi dụng sơ hở trong quản lý, trông coi tài sản của chủ sở hữu, lén lút chiếm đoạt tài sản, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của bị hại, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bản thân bị cáo đã bị xét xử về tội Trộm cắp tài sản và tội Đánh bạc, ngay sau khi ra tù bị cáo không cải tạo mình mà tiếp tục phạm tội, lần phạm tội này của bị cáo tuy số tiền chưa đủ định lượng nhưng do bị cáo đã có tiền án, chưa được xóa án tích nên là yếu tố định tội đối với bị cáo. Do vậy cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, có như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và đường lối xử lý đối với bị cáo:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo bị áp dụng tình tiết phạm tội 02 lần trở lên, theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là người phạm tội trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được phân tích ở trên, Hội đồng xét xử xét mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên chấp nhận xử phạt bị cáo trong mức án Viện kiểm sát đề nghị.
[5] Về phần dân sự: Các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu đề nghị bồi thường nên HĐXX không xem xét.
[6] Về vật chứng: Quá trình điều tra tạm giữ 01 máy hàn điện nhãn hiệu NANO WELD, màu sơn cam đã qua sử dụng. Ngày 16/12/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện S đã trả lại cho anh Phạm Văn S là chủ sở hữu hợp pháp.
Do vậy HĐXX không xem xét.
[7] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo bản án: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS;
Căn cứ: Điều 136, 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
- Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Văn N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 02/3/2024.
2. Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại được quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án (đối với phần liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình) trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Minh Khánh |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ |
|
Ma Quốc Thể - Nguyễn Danh Long |
Hoàng Thị Minh Khánh |
Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 14/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 60/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T.V.N trộm cắp tài sản
