|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG TỈNH THỪA THIÊN HUẾ ————— |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————— |
|
Bản án số: 60/2024/HNGĐ-ST Ngày: 14/06/2024. “V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Hồng Tâm và ông Nguyễn Văn Hóa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Linh Hương Giang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân T – Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 06 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 55/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 04 năm 2024 về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXX-ST ngày 28 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Phan Thị T1, sinh năm: 1980; địa chỉ: 9 đường số H, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.
- - Bị đơn: Anh Lê Văn N, sinh năm: 1976; địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 25/10/2023, bản tự khai khai ngày 26/04/2024 của anh Lê Văn N, bản tự khai ngày 07/05/2024 của chị Phan Thị T1 cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của bà Phan Thị T1 tại phiên tòa đã được xác định như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị T1 và anh Lê Văn N kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và được UBND xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 15/05/2000. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc tại 3 L, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh, được vài năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm sống, cả hai không có tiếng nói chung. Từ tháng 11/2023 đến nay anh Lê Văn N chuyển về nhà bố mẹ ở Thôn T, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế để sinh sống. Hiện nay hai vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mỗi người đều có cuộc sống riêng. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị Phan Thị T1 xin ly hôn với anh Lê Văn N.
- Về phía anh Lê Văn N trình bày trong bản tự khai: Về thời gian và điều kiện kết hôn giống như chị T1 đã trình bày. Nay chị Phan Thị T1 có đơn xin ly hôn anh N cũng đồng ý ly hôn với chị Phan Thị T1.
- Về con chung: Chị Phan Thị T1 và anh Lê Văn N đều xác nhận vợ chồng có 04 con chung tên là Lê Thị Thùy L, sinh ngày 30/08/2001; Lê Thị Kiều N1, sinh ngày 30/10/2005; Lê Phan Quỳnh M, sinh ngày 05/05/2012 và Lê Thị Ánh N2, sinh ngày 25/05/2008. Hiện nay các con đang ở với mẹ, khi ly hôn các đương sự thỏa thuận giao 02 con chung là cháu Lê Thị Ánh N2 và Lê Phan Quỳnh M cho chị T1 được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi 02 con trưởng thành, đủ 18 tuổi. Chị T1 không yêu cầu anh Lê Văn N cấp dưỡng tiền nuôi 02 con chung. Còn đối với hai cháu Lê Thị Thùy L và Lê Thị Kiều N1 đã trưởng thành, đủ 18 tuổi nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Chị Phan Thị T1 và anh Lê Văn N tự thỏa thuận giải quyết và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Chị Phan Thị T1 và anh Lê Văn N xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Qúa trình Tòa án giải quyết vụ án đã nhiều lần gửi giấy triệu tập cũng như Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải cho chị Phan Thị T1 và anh Lê Văn N, tuy nhiên anh N vẫn vắng mặt và có đơn xin giải quyết xét xử vắng mặt nên Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử vào ngày 14/06/2024. Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Về việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật về tố tụng, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang có ý kiến:
- - Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án, người tiến hành tố tụng, nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật về tố tụng không có vi phạm gì cần kiến nghị khắc phục. Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử, xét xử theo quy định của pháp luật.
- - Về giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57 Luật Hôn Nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị T1, cho chị T1 được ly hôn với anh N. Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Lê Thị Ánh N2 sinh ngày: 25/05/2008 và Lê Phan Quỳnh M, sinh ngày: 05/05/2012 cho chị Phan Thị T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi 02 con trưởng thành, đủ 18 tuổi. Anh Lê Văn N không phải cấp dưỡng tiền nuôi 02 con chung. Còn hai cháu Lê Thị Thùy L, sinh ngày 30/08/2001; Lê Thị Kiều N1, sinh ngày 30/10/2005 đã trưởng thành, đủ 18 tuổi, các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về tài sản chung: Chị T1 và anh N tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về nợ chung: Chị T1 và anh N xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc chị Phan Thị T1 phải chịu án phí ly hôn theo quy định là 300.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng: Bị đơn có nơi cư trú và đang sinh sống tại: Thôn T, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị T1 và anh Lê Văn N xác nhận vợ chồng chung sống với nhau, đã thực hiện đầy đủ các thủ tục về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, nên được công nhận hôn nhân hợp pháp.
- Về việc nuôi con chung và tiền cấp dưỡng nuôi con: Vợ chồng chị Phan Thị T1 và anh Lê Văn N đều xác nhận có 04 con chung tên là Lê Thị Thùy L, sinh ngày 30/08/2001; Lê Thị Kiều N1, sinh ngày 30/10/2005; Lê Thị Ánh N2, sinh ngày 25/05/2008 và Lê Phan Quỳnh M, sinh ngày 05/05/2012. Hiện nay các con đang ở với mẹ, khi ly hôn các đương sự thỏa thuận giao 02 con chung là cháu Lê Thị Ánh N2 và Lê Phan Quỳnh M chị T1 được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi 02 con trưởng thành, đủ 18 tuổi. Xét thấy việc thỏa thuận của các đương sự cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu N2 và cháu M nên Hội xét xử chấp nhận xử giao 02 cháu Lê Thị Ánh N2 và cháu Lê Phan Quỳnh M cho chị T1 được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi 02 con trưởng thành, đủ 18 tuổi cũng phù hợp với quy định của pháp luật. Chị T1 không yêu cầu anh Lê Văn N cấp dưỡng tiền nuôi 02 con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Còn đối với hai cháu Lê Thị Thùy L và Lê Thị Kiều N1 đã trưởng thành, đủ 18 tuổi không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung: Chị Phan Thị T1 và anh Lê Văn N tự thỏa thuận, không có yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về nợ chung: Chị Phan Thị T1 và anh Lê Văn N xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc nguyên đơn chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Bị đơn là anh Lê Văn N đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Xét về yêu cầu ly hôn của chị Phan Thị T1, thấy rằng: Theo kết quả thu thập tài liệu, chứng cứ, lời khai của chị T1, anh N, quá trình Tòa án xác minh thu thập chứng cứ, để có cơ sở xác định nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do cuộc sống vợ chồng giữa chị Phan Thị T1 và anh Lê Văn N không hạnh phúc; nguyên nhân là do vợ chồng thường hay gây gỗ, cãi vã, bất đồng quan điểm sống dẫn đến cuộc sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Vợ chồng không còn tình cảm với nhau, không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ lẫn nhau. Thực tế vợ chồng đã ly thân, mỗi người có cuộc sống riêng, không còn tình cảm. Tòa án đã gửi thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải để mục đích hòa giải đoàn tụ cho hai vợ chồng nhưng anh N không đến Tòa án và đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Bản thân anh N cũng muốn ly hôn với chị T1 nên không mong muốn Toà án hoà giải đoàn tụ. Nhận thấy vợ chồng chị T1, anh N đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận xử cho chị T1 được ly hôn với anh N là phù hợp pháp luật.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Phan Thị T1. Xử cho chị Phan Thị T1 được ly hôn với anh Lê Văn N; quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
- Về nuôi con chung: Xử giao 02 con chung là cháu Lê Thị Ánh N2 sinh ngày: 25/05/2008 và Lê Phan Quỳnh M, sinh ngày: 05/05/2012 cho chị Phan Thị T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi 02 con trưởng thành, đủ 18 tuổi; Anh Lê Văn N không phải cấp dưỡng tiền nuôi 02 con chung. Đối với hai cháu Lê Thị Thùy L, sinh ngày 30/08/2001; Lê Thị Kiều N1, sinh ngày 30/10/2005 đã trưởng thành, đủ 18 tuổi, các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Chị Phan Thị T1 và anh Lê Văn N tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Chị Phan Thị T1 và anh Lê Văn N xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí sơ thẩm: Chị Phan Thị T1 phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại biên lai thu tiền số AA/2023/0026852 ngày 17/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh. Nay chị T1 không phải nộp thêm.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Hồng |
Bản án số 60/2024/HNGĐ-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 60/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp xin ly hôn
