|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 60/2024/HS-ST Ngày 14 - 5 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Việt Hưng
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Văn Tiến và bà Đỗ Thị Thu Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Long - Kiểm sát viên
Ngày 14 tháng 5 năm 2024. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2022/TLST - HS ngày 16 tháng 4 năm 2024; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48A/2024/QĐXXST - HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ tên: Lê Minh Q; (Tức Lê Minh Q1); sinh ngày 23/11/1993; Giới tính: Nam. Tại Thái Bình. Nơi cư trú: số nhà A, tổ dân phố số G, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Lê Minh Q2, sinh năm 1973; con bà: Phạm Thị V, sinh năm 1974. Có vợ là Đinh Thị H, sinh năm 2000, có 02 con, con lớn sinh năm 2017 con nhỏ sinh năm 2024.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 12/HSST; ngày 02/3/2011 Toà án nhân dân huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình xử phạt 01 năm tù về tội trộm cắp tài sản (Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án). Bản án hình sự sơ thẩm số 156/HSST ngày 18/8/2011 Toà án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xử phạt 05 năm tù về tội Cướp giật tài sản. Bản án hình sự sơ thẩm số 91/HSST; ngày 29/8/2012 bị Toà án nhân dân huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt 01 năm tù về tội trộm cắp tài sản của bản án hình sự sơ thẩm số 12/HSST ngày 02/3/2011 của Toà án nhân dân huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình và hình phạt 05 năm tù về tội cướp giật tài sản của bản án hình sự sơ thẩm số: 156/HSST ngày 18/8/2011 của Toà án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Hình phạt chung buộc Lê Minh Q phải thi hành là 06 năm 09 tháng tù, ngày 01/5/2016 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, ngày 24/12/2012 chấp hành xong phần án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 28/10/2018 bị công an huyện T ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền 4.000.000 đồng theo quyết định số 236 về hành vi xâm phạm sức khoẻ người khác đến ngày 09/11/2018 bị cáo chấp hành xong tiền phạt.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/01/2024 đến ngày 12/01/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Bị cáo trích xuất có mặt tại phiên tòa.
Người chứng kiến:
Anh Bùi Văn T, sinh năm 1990, trú tại: Vị D, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình.
Anh Đỗ Trọng Đ, sinh năm 1995, trú tại: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.
Anh Lê Hữu T1, sinh năm 1980, trú tại: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.
Anh Lê Minh Q2, sinh năm 1972.
Chị Phạm Thị V, sinh năm 1973, Đều trú tại: Số nhà A, tổ dân phố số G, thị trấn D, đều thuộc huyện T, tỉnh Thái Bình ( Đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 06 tháng 01 năm 2024, Lê Minh Q điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 17B6- 44799 đi từ nhà đến khu vực cầu P thuộc địa phận huyện V, thành phố Hải Phòng để tìm mua ma tuý. Tại đây Q đã gặp một người nam giới khoảng 35 tuổi không biết tên, địa chỉ hỏi và mua được 01 gói ma tuý đá với giá 200.000 đồng, đồng thời xin được của người này 03 ống nhựa và 01 ống hút thuỷ tinh hình gấp khúc. Q cầm gói ma tuý và bộ D sử dụng ma tuý cho vào túi áo khoác bên trái phía trước đang mặc rồi điều khiển xe mô tô về nhà. Khi đi về đến ngõ A, đường N, thuộc tổ dân phố số G, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình thì bị tổ công tác Công an huyện T, phối hợp với xã T, thị trấn D phát hiện, yêu cầu Q dừng lại để kiểm tra. Tại đây, trước sự chứng kiến của các ông Bùi Văn T, sinh năm 1990, ở thôn V, xã D, Đỗ Trọng Đ, sinh năm 1995, ở thôn Đ, xã T và Lê Hữu T1, sinh năm 1980, ở thôn T, xã T, đều thuộc huyện T, tỉnh Thái Bình. Công an đã thu giữ tại túi áo khoác bên trái phía trước Q đang mặc 01 túi nilon trong suốt có mép cài, bên trong chứa chất dạng tinh thể trong suốt, 01 ống thuỷ tinh trong suốt hình gấp khúc; 03 ống nhựa trong đó có 01 ống nhựa màu xanh lá cây, 01 ống nhựa màu xanh nước biển, 01 ống nhựa màu hồng; thu tại túi quần phía trước bên phải 01 điện thoại Nokia màu đen đã cũ, kiểm tra chiếc xe mô tô nhưng không thu giữ được gì. Q khai đó là gói ma tuý đá Q vừa mua và bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá Q xin được về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã niêm phong gói ma tuý đồng thời đưa Q và mời người chứng kiến về trụ sở Công an thị trấn D lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và làm các thủ tục khác theo quy định của pháp luật. Cùng ngày Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Minh Q nhưng không phát hiện, thu giữ gì.
Bản kết luận giám định số 29/KL-KTHS ngày 10/01/2024 của Phòng K - Công an tỉnh T kết luận: Vật chứng trong phong bì niêm phong thu của Lê Minh Q gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,2965 gam (không phẩy hai nghìn chín trăm sáu mươi lăm gam).
Bản cáo trạng số: 50/CT-VKSTTTB ngày 15 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình và tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy thực hiện quyền công tố, giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Lê Minh Q như đã nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử:
- * Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Minh Q phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- * Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lê Minh Q từ 2 năm đến 2 năm 03 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (Ngày 06 tháng 01 năm 2024).
- Không áp dụng phạt tiền đối với bị cáo.
- * Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xử lý theo quy định của pháp luật.
- * Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến và tranh luận gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ kết tội bị cáo: Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Hồi 16 giờ ngày 06/01/2024, tại ngõ A, đường N thuộc tổ dân phố số G, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình. Lê Minh Q tức Q1 đã có hành vi tàng trữ trái phép trong túi áo khoác bên trái phía trước 0,2965 gam ma túy, loại Methamphetamine; 01 ống thuỷ tinh trong suốt hình gấp khúc; 03 ống nhựa trong đó có 01 ống nhựa màu xanh lá cây, 01 ống nhựa màu xanh nước biển, 01 ống nhựa màu hồng mục đích để sử dụng, bị Công an huyện T, phối hợp với công an xã T, thị trán Diêm Điền bắt quả tang. Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là phù hợp, ngoài ra hành vi của bị cáo còn được chứng minh bằng các chứng cứ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an huyện T lập ngày 06/01/2024. Bản kết luận giám định số 29/KL-KTHS ngày 10/01/2024 của Phòng K - Công an tỉnh T. Biên bản ghi lời khai của những người chứng kiến là các ông Bùi Văn T, Đỗ Trọng Đ, anh Lê Hữu T1, anh Lê Minh Q2, chị Phạm Thị V cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự thì:
Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
[...] c) H1, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; [...]”.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lê Minh Q (Tức Q1) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[3] Về tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm quy định quản lý chất gây nghiện của Nhà nước. Ma túy là vật cấm lưu hành, không những làm sa sút về sức khỏe trí tuệ con người mà nó còn làm hủy hoại đạo đức nhân cách con người, phá vỡ hạnh phúc gia đình, là tác nhân lan truyền đại dịch HIV/AIDS, là nguồn gốc phát sinh các loại tội phạm khác gây ảnh hưởng đến trật tự trị an. Vì vậy phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm minh tương xứng với hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân xấu đã bị tòa án kết án về tội Trộm cắp tài sản và cướp tài sản sau khi chấp hành xong hình phạt tù đã bị xử phạt vi phạm hành chính bị cáo chấp hành xong; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình quy định tại điều 52 Bộ luật hình sự, Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởngtình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5] Trên cơ sở đánh giá tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội nhưng cũng xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của Nhà nước.
[6] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, Xét bị cáo tàng trữ ma túy để xử dụng cho bản thân bị cáo không có thu nhập nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về nguồn gốc ma túy và bộ D để sử dụng ma tuý, bị cáo Lê Minh Q ( Tức Q3) khai mua và xin được của một người nam giới khoảng 35 tuổi không biết tên, địa chỉ, đặc điểm nhận dạng ở khu vực, huyện V, thành phố Hải Phòng nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T không có căn cứ để để điều tra xác minh để xử lý.
[7.1] Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, sơn màu xanh đen, gắn biển kiểm soát 17B6 – 447.99, 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia Q sử dụng làm phương tiện để đi mua ma tuý ngày 06/01/2024 quá trình điều tra xác định là tài sản của bà Phạm Thị V là mẹ đẻ của bị cáo nên cơ quan điều tra đã trả lại cho bà V là phù hợp với quy định của pháp luật.
[8] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Công an thu giữ của bị cáo Lê Minh Q tức Quyết 0,2965 gam Methamphetamine sau khi lấy mẫu giám định còn lại 0,2676 gam và toàn bộ bao gói trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 29/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T; 01 ống thuỷ tinh trong suốt hình gấp khúc; 03 ống nhựa trong đó có 01 ống nhựa màu xanh lá cây, 01 ống nhựa màu xanh nước biển, 01 ống nhựa màu hồng là vật Nhà nước cấm lưu hành. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm c khoản 1Điều 47; Điều 50 Bộ luật hình sự điểm a khoản 1 điều 106, 136, 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Minh Q (Tức Q) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1.1 Xử phạt bị cáo Lê Minh Q (Tức Q) 02 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ (Ngày 06 tháng 01 năm 2024).
2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo Lê Minh Q tức Quyết 0,2965 gam Methamphetamine sau khi lấy mẫu giám định còn lại 0,2676 gam và toàn bộ bao gói trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 29/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T; 01 ống thuỷ tinh trong suốt hình gấp khúc; 03 ống nhựa trong đó có 01 ống nhựa màu xanh lá cây, 01 ống nhựa màu xanh nước biển, 01 ống nhựa màu hồng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an huyện T, tỉnh Thái Bình và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình ngày 16 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình).
3. Về án phí: Bị cáo Lê Minh Q (Tức Q3) phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lê Minh Q ( Tức Q )có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 14 tháng 5 năm 2024.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Việt Hưng |
Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 60/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
