|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 60/2024/HNGĐ-ST Ngày 14-5-2024 Về tranh chấp: "Ly hôn, nuôi con chung" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Lắm
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Thanh Tùng
- Ông Đỗ Viết Phúc
Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ngọc Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Khắc Huy - Kiểm sát viên
Trong ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 05/2023/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2023 về tranh chấp: "Ly hôn, nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn T. H, sinh năm 19xx. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang (có đơn vắng mặt)
- Bị đơn: Nguyễn T. D, sinh năm 19xx. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn xin ly hôn ngày 23/01/20xx và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn T. H trình bày: Chị và anh D quen biết nhau vào năm 20xx, tìm hiểu khoảng hơn một năm, thì tự nguyện tiến tới hôn nhân, không tổ chức cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Tân Phú Đông tỉnh Tiền Giang vào năm 202xx. Sau kết hôn, vợ chồng sống bên gia đình anh D tại ấp, xã T huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang, ngay từ khi kết hôn, chị đã nhận thấy cuộc sống chung vợ chồng không hạnh phúc, chị muốn ly hôn vào thời gian đó nhưng anh D không đồng ý nên chị bỏ ý định chia tay, vợ chồng mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nhau,
nay chị đã có tình cảm với người đàn ông khác và đã bỏ về nhà cha mẹ ruột của chị ở tỉnh Tây Ninh sống từ tháng 10/20xx, anh chị đã ly thân từ đó cho đến nay. Anh chị không có liên lạc, hàn gắn tình cảm. Nay không còn tình cảm với anh D, chị yêu cầu ly hôn.
Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc T. T, sinh ngày 12/7/20xx. Chị yêu cầu được nuôi dưỡng cháu T, không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị khai không có, không yêu cầu giải quyết
* Quá trình tố tụng bị đơn anh Nguyễn T. D đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ, nhưng anh D không đến Tòa án để tham dự phiên hòa giải, không gửi cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu xin ly hôn.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, không kiến nghị gì về tố tụng.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H, cho chị H được ly hôn với anh D. Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc T. T, sinh ngày 12/7/20xx cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, anh D không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Quan hệ tranh chấp giữa các bên đương sự là tranh chấp: "Ly hôn, nuôi con chung" thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Việc nộp đơn khởi kiện, thụ lý đơn và thẩm quyền giải quyết của Tòa án đúng quy định; Việc thu thập tài liệu chứng cứ; Thủ tục kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử được thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chị H có đơn xin vắng mặt, bị đơn anh D vắng mặt không lý do dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh không thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định. Trong suốt quá trình tố tụng và tại phiên tòa anh D vắng mặt là tự từ bỏ lời trình bày của đương sự tại tòa. Việc vắng mặt của anh D không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Hội đồng xét xử căn
cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[3] Về hôn nhân: Anh D và chị H kết hôn năm 20xx trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân gia đình nên là hôn nhân hợp pháp. Xét yêu cầu ly hôn của chị H, Hội đồng xét xử nhận thấy, theo lời trình bày của chị: Sau khi cưới, chị đã nhận thấy cuộc sống chung vợ chồng không hạnh phúc, chị muốn ly hôn vào thời gian đó nhưng anh D không đồng ý nên chị bỏ ý định chia tay, vợ chồng mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nhau, nay chị đã về nhà cha mẹ ruột của chị ở tỉnh Tây Ninh sống từ tháng 10/20xx, anh chị đã ly thân từ đó cho đến nay. Về phía anh D, kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa sơ thẩm, dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng anh vẫn không đến Tòa án và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến. Cho thấy, anh không có trách nhiệm với gia đình, không quan tâm hàn gắn tình cảm với chị H và mặc nhiên thừa nhận vợ chồng chung sống có xảy ra những mâu thuẫn như chị H trình bày. Do hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của chị H, cho chị được ly hôn với anh D là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[4] Về nuôi con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Ngọc T T, sinh ngày 12/7/20xx, hiện cháu đang sống với chị H. Xét yêu cầu được tiếp tục nuôi con của chị H, Hội đồng xét xử nhận thấy, cháu T sống cùng chị đã ổn định về mọi mặt; hơn nữa hiện cháu dưới 36 tháng tuổi nên cần giao cho mẹ tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng nhằm đảm bảo sự phát triển bình thường của cháu cũng như phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Do đó, yêu cầu của chị H là có căn cứ để chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị H không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét đến.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: chị H xác định không có, nên không xem xét đến.
[6] Về án phí: Chị H yêu cầu xin ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn theo quy định.
[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn T. H.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn T. H được ly hôn với anh Nguyễn T. D.
2. Về nuôi con chung:
- Giao con chung Nguyễn Ngọc T. T, sinh ngày 12/7/20xx cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng: chị H chưa yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.
- Anh D được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung; chị H và các thành viên gia đình không được ngăn cản.
3. - Về án phí: Chị Nguyễn T. H phải chịu tiền án phí hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0001575 ngày 23/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang. Chị H đã nộp xong án phí.
Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đặng Văn Lắm |
Bản án số 60/2024/HNGĐ-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 60/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn