|
TAND HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 60/2024/HS-ST Ngày 13/5/2024. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
1. Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đỗ Đình Cường.
2. Ông Lò Văn Yểu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Nguyệt Ánh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 60/2024/TLST - HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Tòng Văn S, sinh năm 1973 tại huyện T, tỉnh Lai Châu. Nơi cư trú: Bản P, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Tòng Văn Đ (đã chết) và bà Lò Thị P – sinh năm: 1931; Vợ: Lò Thị L - sinh năm 1973; con: có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1994, con nhỏ nhất sinh năm 2002; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt truy nã, tạm giam từ ngày 10/02/2024 tại nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Lai Châu đến nay, bị cáo có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Lò Thị L - sinh năm 1973, địa chỉ: Bản P, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu (có mặt).
- Người làm chứng:
- Anh Lò Văn T - sinh năm 1992 (vắng mặt).
- Chị Lường Thị T1 - sinh năm 1993 (vắng mặt).
Đều có địa chỉ: Bản T, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ ngày 03/9/2022, Tòng Văn S điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 25B1- 687.40 đi từ nhà xuống bản N, xã P, huyện T tìm mua Heroin để sử dụng. Khi đến bản Noong Thăng, S gặp một người phụ nữ dân tộc Mông, không rõ lai lịch ở ngoài đường. Qua trao đổi S hỏi và mua được của người phụ nữ này 01 gói Heroin được gói bằng ba mảnh nilon màu hồng với số tiền 200.000 đồng. Sau khi đưa H cho S, người phụ nữ này đưa thêm cho Seo 01 mảnh giấy mặt bên ngoài màu trắng, mặt trong màu trắng - đỏ - xanh để S gói thêm một lớp bên ngoài gói H vừa mua để tránh bị ướt. Sau khi mua được H, S cất giấu trong lòng bàn tay phải rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà. Đến 13 giờ 50 phút cùng ngày khi S về đến bản P, xã P, huyện T thì gặp Đội cảnh sát giao thông, Công an huyện T đang làm nhiệm vụ ra hiệu lệnh dừng xe kiểm tra. Do lo sợ bị phát hiện nên S đã thả gói H đang cất giấu ở trong lòng bàn tay phải ra thì gói Heroin rơi xuống rãnh nước khô ven đường phía bên phải đường đi theo hướng di chuyển của S, khi S thả gói Heroin xuống rãnh nước khô bên đường thì có anh Lò Văn T và chị Lường Thị T1 trực tiếp chứng kiến và nhìn thấy.
Tại hiện trường Tòng Văn S không thừa nhận gói Heroin trong rãnh nước khô ven đường phía bên phải là của S. Sau đó Cơ quan điều tra tiến hành lập biên bản vụ việc và phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ niêm phong gói Heroin nghi của Tòng Văn S theo quy định và thu giữ của S 01 xe mô tô biển kiểm soát: 25B1- 687.40, nhãn hiệu YAMAHA, loại xe Jupiter FI, màu sơn đen, đỏ; số khung: 1340KY084986; số máy: E3SE122644, xe đã qua sử dụng.
Để thu thập thêm tài liệu, chứng cứ làm rõ hành vi phạm tội của Tòng Văn S, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã thụ lý nguồn tin đối với vụ việc trên. Ngay sau đó Tòng Văn S đã bỏ trốn khỏi địa phương, không rõ đi đâu, làm gì. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã truy tìm nhưng không có kết quả. Ngày 12/12/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra Quyết định khởi tố vụ án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Ngày 09/8/2023 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra quyết định khởi tố bị can đối với Tòng Văn S về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và ra quyết định truy nã đối với S.
Đến ngày 12/8/2023 do hết thời hạn điều tra vụ án nhưng không biết rõ bị can đang ở đâu nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra quyết định tạm đình chỉ điều tra đối với vụ án và bị can Tòng Văn S. Đến ngày 10/2/2024 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T bắt truy nã đối với Tòng Văn S. Cùng ngày 10/2/2024 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra quyết định phục hồi điều tra vụ án và bị can đối với Tòng Văn S. Tại cơ quan điều tra Tòng Văn S đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy của bản thân.
Ngày 03/9/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành thành lập hội đồng mở niêm phong xác định khối lượng và niêm phong vật chứng. Tại kết luận giám định số 30/KL-TCGĐ ngày 03/9/2022 của người giám định tư pháp theo vụ việc kết luận: Vật chứng nghi là chất ma túy thu giữ trong quá trình khám nghiệm hiện trường nghi của Tòng Văn S có khối lượng là 1,76 gam.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trích 0,12 gam trong tổng số 1,76 gam chất bột màu trắng thu giữ của Tòng Văn S gửi giám định. Tại bản kết luận giám định số 751/KL-KTHS ngày 07/9/2022 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy; loại Heroine.
Ngày 06/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trưng cầu Viện pháp y quốc gia giám định AND thu giữ của Tòng Văn S và 01 mảnh giấy mặt ngoài màu trắng, mặt trong màu trắng - đỏ - xanh dùng để gói Heroin thu giữ tại hiện trường nghi của Tòng Văn S. Tại bản kết luận giám định pháp y về AND số 415/22/TC-AND ngày 08/9/2022 của V kết luận: AND thu từ mảnh giấy gửi giám định (mẫu trong phong bì mẫu vật thu giữ của Tòng Văn S) trùng khớp hoàn toàn với AND của Tòng Văn S trên tất cả các locus STR đã so sánh.
Bản Cáo trạng số 30/CT-VKS-TU, ngày 24/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên để xét xử Tòng Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Tòng Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Tòng Văn S từ 01 năm 10 tháng đến 02 năm 04 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền và buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: 1,64 gam Heroin còn lại sau giám định; 03 mảnh nilon màu hồng, 01 mảnh giấy mặt ngoài màu trắng, mặt trong màu trắng - đỏ - xanh. Tịch thu sung quỹ Nhà nước ½ giá trị chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25B1- 687.40, nhãn hiệu YAMAHA, loại xe Jupiter FI, màu sơn đen, đỏ; số khung: 1340KY084986; số máy: E3SE122644, xe đã qua sử dụng.
Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Bị cáo đồng ý với bản Cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có tranh luận.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Lò Thị L trình bày chiếc xe mô tô bị thu giữ là tài sản chung của vợ chồng chị, việc bị cáo sử dụng chiếc xe để đi mua ma túy thì chị không biết, chị L có nguyện vọng xin lại chiếc xe mô tô trên để phục vụ việc đi lại của gia đình.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, tỉnh Lai Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T tỉnh Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Tòng Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:
Hồi 13 giờ 50 phút, ngày 03/9/2022 tại bản Pác Ta, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu, Tòng Văn S có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroin có khối lượng 1,76 gam được gói bằng 03 mảnh nilon màu hồng và được gói thêm ngoài cùng bằng 01 mảnh giấy mặt ngoài màu trắng, mặt trong màu trắng - đỏ - xanh, mục đích để sử dụng thì bị Công an huyện T phát hiện, lập biên bản vụ việc.
Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, tuy nhiên vì muốn có ma túy để sử dụng nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo Tòng Văn S đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét tình chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Vụ án có tính chất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo không những làm mất trật tự an toàn xã hội trên địa bàn mà còn làm ảnh hưởng đến đời sống sức khỏe con người, làm gia tăng tệ nạn và các loại tội phạm khác nên cần được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Tòng Văn S không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra khi hành vi của bị cáo S bị phát hiện, bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội của mình sau đó bị cáo bỏ trốn gây khó khăn cho quá trình điều tra, tuy nhiên sau khi bị bắt theo quyết định truy nã, quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Trên cơ sở tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đảm bảo tính răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo làm ruộng thu nhập thấp nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng:
- 1,64 gam Heroin còn lại sau giám định là chất Nhà nước cấm, xét thấy cần tịch thu tiêu hủy.
- 03 mảnh nilon màu hồng, 01 mảnh giấy mặt ngoài màu trắng, mặt trong màu trắng - đỏ - xanh là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 25B1- 687.40, nhãn hiệu YAMAHA, loại xe Jupiter FI, màu sơn đen, đỏ; số khung: 1340KY084986; số máy: E3SE122644, xe đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên là tài sản chung của chị Lò Thị L và bị cáo Tòng Văn S, việc bị cáo S dùng chiếc xe mô tô trên để thực hiện hành vi phạm tội thì chị L không biết, tuy nhiên chiếc xe mô tô trên là phương tiện bị cáo S dùng vào việc phạm tội nên xét thấy cần tịch thu toàn bộ chiếc xe mô tô trên để hóa giá sung quỹ Nhà nước, không chấp nhận đề nghị xin trả lại xe của chị Lò Thị L và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc trả lại ½ giá trị chiếc xe trên cho chị Lò Thị L.
[6] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[8] Các đối tượng hành vi liên quan đến vụ án:
Về nguồn gốc 1,76 gam Heroin, Tòng Văn S khai do S mua của một người phụ nữ dân tộc mông không rõ nhân thân, lai lịch tại bản N, xã P, huyện T. Quá trình điều tra, không xác định được người phụ nữ này nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với chị Lò Thị L là vợ bị cáo Tòng Văn S đồng thời là chủ sở hữu chung đối với chiếc xe mô tô do S điều khiển đi mua Heroin. Việc Tòng Văn S điều khiển chiếc xe này đi mua và tàng trữ Heroin thì chị L không biết, vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không đề cập xử lý đối với chị Lò Thị L là đúng quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Tòng Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Tòng Văn S 02 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/02/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì công văn do Công an huyện T phát hành, bên trong đựng 1,64 gam Heroin; Vật chứng được niêm phong theo đúng quy định.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì công văn do Công an huyện T phát hành, bên trong đựng 03 mảnh nilon màu hồng, 01 mảnh giấy mặt ngoài màu trắng, mặt trong màu trắng, đỏ, xanh.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 xe mô tô biển kiểm soát: 25B1- 687.40, nhãn hiệu YAMAHA, loại xe Jupiter FI (hiện trạng vỏ xe ghi Jupiter RC), màu sơn đen, đỏ; số khung: 1340KY084986; số máy: E3SE122644, xe cũ đã qua sử dụng.
(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng hồi 15 giờ 30 phút, ngày 03/5/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Tòng Văn S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Oanh |
Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 60/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS
