Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HOẰNG HÓA

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:60/2024/HS-ST

Ngày 12/9/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa:Bà Cao Thị Nga.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Ngọc Hải

Ông Lê Xuân Thư

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Kiều Oanh - Thư ký viên, Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Lê Toàn- Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩmthụ lý số 51/2024/TLST-HS ngày 08 tháng8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số64/2024/QĐXXST-HS ngày 26tháng 8 năm 2024đối với:

Bị cáo Đinh Khánh D; sinh ngày 09 tháng 11 năm 1994 tạiSơn La; nơi cư trú: Thôn N, xã N, huyện P, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Hùng V và bà Lê Thị C; vợ: Bùi Thị T và có 02 con; tiền sự, tiền án: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 10/01/2024đến nay. Có mặt.

Bị hại: ChịĐặng Thị T1, sinh năm 1990. Vắngmặt.

Địa chỉ: Thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

Người làm chứng:

1. Chị Hà Hồng N, sinh năm 2002. Vắng mặt.

Địa chỉ: Bản H, xã M, huyện V, tỉnh Sơn La.

2. Chị Giàng Thị T2, sinh năm 2002. Vắng mặt.

Địa chỉ: Ngõ E, tổ B, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào chiều ngày 16/5/2023, một đối tượng sử dụng số điện thoại 0598.181.xxx gọi đến cho chị Đặng Thị Tlở thôn N, xã H, huyện H thông báo chị T1 nhận được phần quà là chiếc quạt tích điện; sau đó, đối tượng hướng dẫn chị T1 tải và đăng nhập tài khoản Telegram để được nhận thưởng; khi đăng nhập vào tài khoản T, một đối tượng sử dụng tài khoản Telegram mang tên “QL- Hồ N” giới thiệu là Hồng V1 - Quản lý sự kiện, tri ân khách hàng Tiki company L đã kết bạn hướng dẫn chị T1 làm nhiệm vụ xem các video rồi chụp ảnh màn hình gửi lại để nhận thưởng số tiền 30.000đồng/01video. Quá trình thực hiện nhiệm vụ xem video, chị T1 đã 04 lần nhận được số tiền 30.000đồngtừ số tài khoản 718155924200001 mang tên Đỗ Thành N1 mở tại Ngân hàng N3 chuyển đến số tài khoản 190.3333.043.7010 mang tên Đặng Thị T1 mở tại Ngân hàng T7. Sau đó, đối tượng mang tên “QL- Hồng Vân” hướng dẫn chị T1 kết bạn với tài khoản T3 mang tên “TP -Lê P”; sau khi kết bạn, đối tượng sử dụng tài khoản Telegram mang tên “TP -Lê P” giới thiệu là Lê P - Trưởng phòng marketing của Công ty cổ phần Đvà hướng dẫn chị T1 nâng cấp nhiệm vụ lên X2 để nhận thưởng số tiền 60.000đồng/01video. Để làm được nhiệm vụ này thì chị T1 phải nộp số tiền 300.000đồng vào tài khoản 19050064251013 mang tên Đồng Hoàng T4 mở tại Ngân hàng T7. Chị T1 đồng ý nên đã chuyển 300.000đồng từ số tài khoản của mình đến số tài khoản của Đồng Hoàng T4tại Ngân hàng T7thì được đối tượng chuyển lại số tiền 380.000đồng từ số tài khoản 18810000359311 mang tên Trần Đa N2 mở tại Ngân hàng B1. Sau khi nâng cấp, chị T1 tiếp tục thực hiện nhiệm vụ xem video, chụp ảnh màn hình gửi lại rồi nhận được số tiền 60.000 đồng/01video từ tài khoản của Đỗ Thành N1 mở tại Ngân hàng N3 chuyển đến ngày 16/5/2023 và ngày 17/5/2023 lần lượt là 20.000 đồng; 60.000 đồng; 60.000đồng và 60.000 đồng.

Tiếp đến chị T1 lại được đối tượng “TP-Lê Phương” mời nâng cấp nhiệm vụ lên X3 để nhận thưởng số tiền 90.000 đồng/01video, để làm được nhiệm vụ này thì chị T1 phải nộp số tiền 1.580.000 đồng vào số tài khoản của Đồng Hoàng T4 mở tại Ngân hàng T7. Chị T1đồng ý và thực hiện việc chuyển số tiền 1.580.000 đồng theo đúng yêu cầu; sau khi chuyển tiền nâng cấp, chị T1không nhận được số tiền hoàn trả thì lúc này đối tượng “TP-Lê P” lại hướng dẫn chị T1kết bạn với tài khoản T3mang tên “CG-Lê H” để nhận quà. Quá trình nói chuyện, đối tượng tự giới thiệu là Lê H - chuyên gia chiến lược của Công ty Cổ phần Đ1 đã hướng dẫn chị T1 nhận nhiệm vụ phúc lợi bằng cách nhấn vào liên kết, ấn chọn mua các sản phẩm. Khi thực hiện nhiệm vụ, đối tượng yêu cầu chị T1phải nộp lần lượt số tiền 6.800.000 đồng; 30.000.000đồng và 100.000.000đồng vào số tài khoản của Đồng Hoàng T4 mở tại Ngân hàng T7; sau đó, chị T1 đã chuyển lần lượt số tiền trên từ số tài khoản của mình theo đúng yêu cầu của đối tượng “CG -Lê H” nhưng không được hoàn lại tiền như đã hứa. Khoảng 16h ngày 17/5/2023, đối tượng “CG -Lê H” lại hướng dẫn chị T1 kết bạn với tài khoản Telegram mang tên “TP - LÊ MINH HẢI”; khi kết bạn nói chuyện với tài khoản T3 mang tên “TP - LÊ MINH HẢI”, đối tượng giới thiệu là Lê Minh H1 - Trưởng phòng tài vụ của Công ty Cổ phần C1 sẽ hỗ trợ chị T1 nhanh chóng thanh khoản số tiền đã nộp bằng cách thực hiện bộ nhiệm vụ bổ sung.

Lúc này, đối tượng “TP - LÊ MINH HẢI” đã yêu cầu chị T1 nộp số tiền 100.000.000đồng để thanh toán bổ sung nhưng chị T1 thông báo chỉ mượn được số tiền 70.000.000 đồng nên đối tượng này đã yêu cầu chị T1 nộp số tiền 70.000.000 đồng vào số tài khoản 41110000794645 mang tên Hà Hồng N mở tại Ngân hàng B1; chị T1 đã thực hiện đúng yêu cầu rồi chụp lại hóa đơn chuyển tiền gửi hình ảnh cho tài khoản Telegram mang tên “TP -LÊ MINH HẢI”; đối tượng “TP - LÊ MINH HẢI” tiếp tục yêu cầu chị T1 phải nộp số tiền 130.000.000 đồng mới thanh khoản toàn bộ số tiền mà chị T1 đã nộp kèm với tiền hoa hồng là 446.894.000đồng.

Khoảng 08h58' ngày 18/5/2023, chị T1 đã chuyển số tiền 130.000.000đồng từ số tài khoản của mình đến số tài khoản 21310000887648 mang tên Giàng Thị T2 mở tại Ngân hàng B1 và chụp hóa đơn gửi cho đối tượng “TP -LÊ MINH HẢI”; chị Đặng Thị T1 trong quá trình thực hiện nhiệm vụ mà đối tượng đưa ra và chuyển tổng số tiền 338.380.000 đồng thì chị T1 không nhận được số tiền hoàn lại như các đối tượng đã hứa hẹn, đồng thời chị T1 không thể liên hệ được với các tài khoản Telegram đã nói chuyện trước đó. Do đó, ngày 03/06/2023, chị Đặng Thị T1 đã đến cơ quan Cảnh sát điều tra để trình báo sự việc trên.

Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H tiến hành triệu tập làm việc đối với Đinh Khánh D. Tại cơ quan Cảnh sát điều tra, Đinh Khánh D đã xin đầu thú và khai nhận. Cụ thể:

Khoảng đầu 2023, Đinh Khánh D làm việc cho một Công ty Game do người Trung Quốc làm chủ (D không biết tên công ty). Trong quá trình làm việc D có quen biết với một đối tượng hay gọi là “Bình gold” sinh năm 1989, ở tỉnh Thái Bình; khoảng cuối tháng 4/2023,Công ty có nhận được thông tin lực lượng Công an C2 sẽ đến truy quét những người không có giấy tờ nên Công ty đã cho D về Việt Nam.

Sau khi về Việt Nam, khoảng đầu tháng 5/2023, giữa Dvà B thỉnh thoảng có nhắn tin nói chuyện với nhau qua Zvà anh B có nói với D“Tài khoản ngân hàng của anh bị hạn mức, cho anh mượn tài khoản để anh nhờ người chuyển tiền vào”; sau đó, D đã gửi sốtài khoản 9808888996 của D mở tại Ngân hàng T8 cho B để nhận tiền. Tuy nhiên, mấy ngày sau anh Bliên tục hỏi mượn số tài khoản của D nên D nghi ngờ và có hỏi B “Đấy là tiền ở đâu ra?” thì B nói “Tiền ở áp lừa đảo, khách nó thoát ra khỏi nhóm, chặn không thêm vào nhóm được nữa, mày có mượn được số tài khoản của ai thì mượn rồi anh cho mày một ít” nghĩa là D sẽ được chia lợi nhuận từ việc mượn tài khoản để nhận tiền lừa đảo; nghe thấy vậy nên D đã đồng ý sẽ mượn tài khoản để cung cấp cho B để B để nhận tiền lừa đảo.

Chiều 17/5/2023, Bnhắn tin qua zalo bảo Dgửi số tài khoản để nhận tiền của khách bị lừa; do có quen biết từ trước với chị Hà Hồng N (qua Facebook) nên Dcó đã liên lạc với N hỏi mượn tài khoản để liên kết rút tiền ở trên sàn chứng khoán; N đồng ý và cung cấp tài khoản số41110000794645 mở tại Ngân hàng B1 mang tên mình cho D rồi D gửi qua zalo cho B; sau khi chị T1chuyển số tiền 70.000.000 đồngvào số tài khoản trên của N thì Dgửi số tài khoản 97966889988 của mình mở tại Ngân hàng T9 để N chuyển luôn số tiền đấy cho D; đến tối cùng ngày, B lại nhắn cho D“Nếu mà mai còn được nữa thì nó lại vào 130.000.000đồng”; nghe thấy vậy, Dđã liên lạc với Nđể hỏi xem có số tài khoản nào khác và xem có hạn mức không để D chuyển cho người ta luôn vì họ chuyển130.000.000 đồng; sau đó, N đã mượn và chuyển tài khoảnsố2131.0000.887.648 mở tại Ngân hàng B1của chị Giàng Thị T2đưa cho D.

Khoảng 08h ngày 18/5/2023, B liên lạc qua zalo cho D hỏi “có số tài khoản chưa” thì D liên lạc hỏi lại N“có chuyển tiền đi luôn được không, bây giờ anh chuẩn bị lên lệnh rút tiền bảo người ta để ý điện thoại cho anh” thì Nmượn số tài khoản 2131.0000.887.648 Ngân hàng B1của chị Giàng Thị T2 gửi cho D; sau đó, Dđã nhắn tin số tài khoản trên cho B; chị T1chuyển số tiền130.000.000 đồngđến số tài khoản trên của chị Giàng Thị T2; khiT2nhận được tiền thì chuyển số tiền 100.000.000đồng đến số tài khoản 4111.0000.7946.45 của chị Hà Hồng N; khi nhận được tiền Nbáo cho Dbiết và Dcung cấp số tài khoản 1031378500 của Dmở tại Ngân hàng V2rồi nhận 100.000.000đồng từ tài khoản của Nvà 30.000.000 đồngtừ tài khoản của T2chuyển đến; nhận được 200.000.000đồngtiền lừa đảo trên Dđã nhắn tin qua zalo cho Bbiết và nói mai mới chuyển qua cho B. Tuy nhiên, hôm sau Dvẫn chưa chuyển số tiền đấy cho Bthì Bđã liên lạc bảo D chuyển lại số tiền 170.000.000 đồng còn cho D 30.000.000 đồng và Dđã tiêu sài cá nhân hết.

Đối với số tiền 170.000.000 đồng, Đinh Khánh Dkhai đã chuyển cho “B” thông qua các mã QR code mà Bgửi qua zalo cho D. Tuy nhiên trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã cho Dxem sao kê các tài khoản Ngân hàng của mình nhưng Dkhông chỉ ra được những tài khoản mà mình đã chuyển khoản cho B; ngoài ra, tại sao kê các Ngân hàng cũng thể hiện việc Đinh Khánh Dkhông rút 170.000.000 đồngtiền mặt để chuyển cho B.

Ngày 06/9/2023, Công ty TNHH T10cóCông văn số 01/092023/TIKI có phản hồi với nội dung “Trong tháng 5/2023, T5không có các hoạt động, không có các sự kiện tri ân khách hàng, không có chương trình khách hàng làm nhiệm vụ để tăng tương tác, để nhận thưởng ...”.

Ngày 25/8/2023, Công ty Cổ phần C1có Công văn số 0823/CV/INT trả lời với nội dung “Công ty không có nhân viên nào tên là Lê Minh H1; Công ty không cung cấp các mặt hàng để bán trực tuyến trên trang tiki.vn”.

Ngày 22/5/2024, Công ty TNHH C3có Công văn số 50/2024/ITG trả lời với nội dung “Công ty TNHH C3không thực hiện bất kỳ chương trình trả thưởng nào cho khách hàng. Số thuê bao 0598.181.472 là tổng đài SipTrunk được Công ty TNHH C3cung cấp cho Công ty C4thuê và sử dụng tổng đài Siptrunk ...".

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hđã tiến hành thu giữ tài liệu sao kê các các đối tượng tại các Ngân hàng gồm:

- Tài khoản số 1031378500 tại Ngân hàng V2; tài khoản số [...] tại Ngân hàng V3; tài khoản số 33009966888999 tại Ngân hàng M; tài khoản số 9808888996 tại Ngân hàng T8; tài khoản số 97966889988 của Ngân hàng T9và tài khoản số [...] tại Ngân hàng V4; các tài khoản trên đều là của Đinh Khánh D.

- Tài khoản số 19033330437010 của Đặng Thị T1tại Ngân hàng T8.

- Tài khoản số 21310000887648 của Giàng Thị T2tại Ngân hàng B1.

- Tài khoản số 41110000794645 của Hà Htại Ngân hàng B1.

- Tài khoản số 18810000359311 của Trần Đa N2tại Ngân hàng B1.

- Tài khoản số 71815592400001 của Đỗ Thành N1tại Ngân hàng N4và tài khoản số 50916971323 tại Ngân hàng T9.

- Tài khoản số 19050064251013 của Đông Hoàng T6tại Ngân hàng T8.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động đến gia đình bồi thường toàn bộ số tiền cho chị Đặng Thị T1.

Vật chứng: Thu giữ của Đinh Khánh D 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung galaxy S22 Ultra; màu đen, tên kiểu thiết bị SM-S908E/DS; số sêriRFCT60ZATVK; có lắp 01 sim viettel số 0868.679.xxx và 01 sim vinaphone số 0888.899.xxx, đã qua sử dụng. Đối với chiếc điện thoại SS10 lắp sim số 0868.679.774 và đăng ký tài khoản Zalo mang tên “Trung Quốc”; đây là chiếc điện thoại mà Đinh Khánh Ddùng để liên lạc với B“Gold”, tuy nhiên do điện thoại này bị hỏng nên Dđã vứt bỏ do đó cơ quan Cảnh sát điều traCông an huyện Hkhông tiến hành thu giữ được.

- Ngoài ra Đinh Khánh Dđã mượn các số tài khoản ngân hàng của Hà Hồng Nvà Giàng Thị T2để cung cấp cho đối tượng nhằm nhận số tiền lừa đảo trên; tuy nhiên, quá trình điều tra, Nvà T2không biết việc Dmượn số tài khoản ngân hàng để nhận tiền lừa đảo, hơn nữa sau khi nhận được tiền T2và Nđã chuyển lại cho Dnên không có căn cứ để xử lý.

- Đối với Đồng Hoàng T4, Trần Đa N2và Đỗ Thành N1đã được các đối tượng lạ mặt thuê mở tài khoản Ngân hàng để cung cấp cho đối tượng sử dụng vào việc nhận tiền lừa đảo được và thanh toán tiền thưởng nhiệm vụ cho các bị hại; tuy nhiên trong quá trình điều tra T4, N2và N1không biết các đối tượng dùng tài khoản của mình vào việc gì nên không có căn cứ để xử lý.

- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hđã ra Thông báo truy tìm các bị hại nhưng trong quá trình điều tra không có thêm bị hại đến trình báo.

Cáo trạng số66/CTr-VKSHH ngày 08 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo Đinh Khánh Dvề tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật nêu trên. Sau khi đánh giá tính chất vụ án, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân người phạm tội; đề nghị Hội đồng xét xửtuyên bố bị cáo Đinh Khánh Dphạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; áp dụng điểm a khoản 3Điều 174, điểm b, s khoản 1,2 Điều 51, Điều 54; Điều 38của Bộ luật Hình sự;Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, đề nghị mức hình phạt đối vớibị cáo Đinh Khánh Dtừ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày10/01/2024; không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung galaxy S22 Ultra; màu đen. Tịch thu tiêu hủy 01 sim viettel số: 0868.679.xxx và 01 sim vinaphone số 0888.899.xxx, đã qua sử dụngvà buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng đã truy tố, đồng ý với luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, lời nói sau cùngbị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để bị cáo sớm trở về gia đình

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hạikhông có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ xác định:

Do trước đó Đinh Khánh Dcó quen biết với B“Gold” sinh năm 1989 ở tỉnh Thái Bình nên khoảng đầu tháng 5/2023 Dnhiều lần gửi số tài khoản98088888996 của Dtại Ngân hàng T7cho Bđể nhận tiền; tuy nhiên doBliên tục hỏi mượn số tài khoản của Dnên Dnghi ngờ và có hỏi lại Bvề nguồn tiền, thì Bnói với Dlà “Tiền ở áp lừa đảo, khách nó thoát ra khỏi nhóm, chặn không thêm vào nhóm được nữa, mày có mượn được tài khoản của ai thì mượn rồi anh cho mày một tỉ”.Đến ngày 17/5/2023, Bnhờ Dmượn 02 tài khoản của Hà Hồng Ncó số 41110000794645 và của Giàng Thị T2có số 21310000887648 đều của Ngân hàng B1để Blừa chị Đặng Thị T1chuyển số tiền 70.000.000đồngvàotài khoản của Nvà 130.000.000đồng vào tài khoản của T2. Sau khi Nvà T2nhận được tiền do chị Tlchuyển đến thì T2và Nđã chuyển toàn bộ số tiền nhận được vào 02 số tài khoản của D. Sau khi nhận được tiền từ T2và NthìDkhông chuyển cho đối tượng Bmà để sử dụng tiêu xài cá nhân hết.

Hành vi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của bị cáo Đinh Khánh Dthực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm của tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sựnhư Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa truy tố đối với bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ.

[3] Xét tính chất của vụ án thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là mượn tài khoản ngân hàng để cung cấp cho đối tượng khác nhận tiền lừa đảo, sau khi bị hại chuyển 02 lần tiền vào tài khoản mà bị cáo mượn với tổng số tiền 200.000.000 đồng,khi nhận được tiền bị cáo đã chiếm đoạt số tiền trên để dùng cho cá nhân. Hành vi nêu trên của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo đã ảnh hưởng lớn đến an ninh trật tự và đời sống của nhân dân.Do đó cần phải xử lý nghiêm, có hình phạt phù hợp nhằm giáo dục bị cáo, giáo dục chung cho xã hội.

Ngoài việc bị chiếm đoạt 200.000.000 đồng nêu trên chị Đặng Thị T1còn bị các đối tượng khác (trong đó có B“Gold”) chiếm đoạt số tiền 138.380.000 đồng. Quá trình điều tra chưa xác định được các đối tượng chiếm đoạt, do đó cơ quan điều tra tách ra tiếp tục xác minh khi nào có căn cứ xử lý sau.

[4]. Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:

Bị cáokhông phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tác động đến gia đình bồi thường toàn bộ số tiền cho bị hại, bị cáo đã đầu thú khi được cơ quan Công an triệu tập đến làm việc nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1,2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nên cần áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ số tiền cho bị hại.

[6] Vật chứng:01 điện thoại Samsung S10 lắp sim số 0868.679.774 bị cáođăng ký tài khoản Zalo mang tên “Trung Quốc”; đây là chiếc điện thoại mà bị cáo dùng để liên lạc với B“Gold” là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội,tuy nhiên do điện thoại này sau đó bị hỏng nên bị cáo đã vứt bỏ, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hkhông tiến hành thu giữ được. Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung galaxy S22 Ultra; màu đenthu giữ của bị cáo, chiếc điện thoại này bị cáo mua sau khi phạm tộinên cần trả lại cho bị cáo; 01 sim viettel số: 0868.679.xxx và 01 sim vinaphone số 0888.899.xxxlà các số điện thoại dùng để liên hệ với B“Gold”, Hà Hồng Nvà Giàng Thị T2, ngoài ra còn là số đăng ký OTB của các tài khoản của Dcung cấp cho Bđể thực hiện việc nhận và chuyển tiền của bị hại, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Án phí: Bị cáo là người bị kết án và không thuộc trường hợp miễn án phí nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩmtheo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1,2 Điều 51;Điều 54; Điều 38của Bộ luật Hình sự.

Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Đinh Khánh D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt:Bị cáo Đinh Khánh D 05 (Năm) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/01/2024.

Vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung galaxy S22 Ultra; màu đen. Tịch thu tiêu hủy 01 sim viettel số: 0868.679.xxx và 01 sim vinaphone số 0888.899.xxx, đã qua sử dụng (Theo biên bản giao nhận vật chứng số 61/BBGN ngày 20/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa).

Án phí: Buộc bị cáo Đinh Khánh D phảichịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thi người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSNDhuyện Hoằng Hóa;
  • - Cơ quan điều tra Công an huyện Hoằng Hóa;
  • - Cơ quan THAHS huyện Hoằng Hóa;
  • - Chi cục THADShuyện Hoằng Hóa;
  • - Nhà Tạm giữ Công an huyện Nga Sơn;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Cao Thị Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA, TỈNH THANH HÓA về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 60/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đinh Khánh D phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger