Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỸ TÚ

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 12-7-2024

V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Minh Tuấn.

Ông Lý Thanh Chiều.

- Thư ký phiên Tòa: Bà Trương Thị Anh Thư là thư ký Tòa án nhân

huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú tham gia phiên tòa:

Triệu Thị Mộng Lý– Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 86/024/TLST-HNGĐ, ngày 16 tháng 4 năm 2024 về ly hôn và tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim L; Địa chỉ: ấp N, xã T, huyện P, tỉnh

Hậu Giang (vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Đoàn Thanh P; Địa chỉ: ấp X xã M, huyện M, tỉnh Sóc

Trăng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 29 tháng 11 năm 2023 cũng như trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim L và anh Đoàn Thanh P tổ chức lễ cưới vào năm 2008 và đăng ký kết hôn quá hạn ngày 03 tháng 02 năm 2009 tại Uỷ ban nhân dân xã Mỹ Hương, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng. Hôn nhân của chị Lvà anh P được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc. Sau khi kết hôn chị Lvà anh P sống tại địa chỉ số 13/13 đường số 1, Phường An

Lạc A, Quận Bình Tân, Thành Phố Hồ Chí Minh. Thời gian đầu vợ chồng chị Lvà anh Pchung sống với nhau hạnh phúc, nhưng thời gian gần đây vợ chồng anh chị bất đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân dẫn đến cãi vã do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Khi xảy ra mâu thuẫn chị Lvà anh Pđã nhiều lần hàn gắn tình cảm nhưng vẫn không thay đổi được và anh chị đã không còn sống chung với nhau từ năm 2022 đến nay. Nay chị Lnhận thấy không thể tiếp tục cuộc sống hôn nhân với anh Pdo đó chị Lyêu cầu Toà án giải quyết được ly hôn với anh Đoàn Thanh P.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Kim L tự khai trong thời gian chung sống, chị Lvà anh P có 01 (một) người con chung là Đoàn Nguyễn M (Nữ, sinh ngày 15-11-2009), hiện nay cháu cháu Mđang sống cùng với chị Ltại địa chỉ ấp Nhất A, xã Thạnh Hoà, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang. Sau khi ly hôn chị L yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đoàn Nguyễn M(Nữ, sinh ngày 15-11-2009) cho đến khi cháu Mđủ 18 (mười tám) tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lkhông yêu cầu anh Pcấp dưỡng nuôi cháu Đoàn Nguyễn My, chị Lcho rằng chị có khả năng, điều kiện nuôi dưỡng cháu Mvà việc chị Lkhông yêu cầu anh Pcấp dưỡng cho cháu Mlà sự tự nguyện của chị Lan.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Kim L tự khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Đối với bị đơn Đoàn Thanh P: Sau khi thụ lý, Tòa án đã tóm tắt nội dung đơn khởi kiện và các yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim L tại Thông báo thụ lý vụ án số: 139/TB-TLVA, ngày 16 tháng 4 năm 2024 và đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn anh Đoàn Thanh P, cũng như đã triệu tập hợp lệ anh Đoàn Thanh P đến dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hai lần nhưng anh Đoàn Thanh P đều không đến dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Sau đó, Tòa án đã Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho anh Đoàn Thanh P nhưng anh Đoàn Thanh P không gửi văn bản ghi ý kiến của anh Đoàn Thanh P đối với yêu cầu khởi kiện nêu trên của chị Nguyễn Thị Kim L.

Tại Biên bản ghi ý kiến của cháu Đoàn Nguyễn M, lập ngày 28 tháng 5 năm 2024 cháu M trình bày: Hiện nay cháu M đang học lớp 9 tại trường Trung học cơ sở An Lạc, cháu M học loại giỏi, từ khi cha mẹ cháu không còn chúng sống với nhau thì cháu sống với mẹ hiện nay cháu sống với mẹ rất tốt nên có nguyện vọng tiếp tục được sống với mẹ và không yêu cầu gì đối với cha.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng trình bày ý kiến như sau:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ

pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn chuẩn bị xét xử được đảm bảo theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia tố tụng:

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim L vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn anh Đoàn Thanh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng cả hai lần đều vắng mặt không lý do. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.

[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim L và bị đơn anh Đoàn Thanh P có nơi cư trú ấp Xẻo Gừa, xã Mỹ Hương, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án.

[3] Về nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim L và anh Đoàn Thanh P xác lập quan hệ vợ chồng trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đủ điều kiện kết hôn. Do đó việc chị Nguyễn Thị Kim L và anh Đoàn Thanh P tiến đến hôn nhân và được Uỷ ban nhân dân xã Mỹ Hương, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 03 tháng 02 năm 2009 là hoàn toàn đúng theo đúng quy định pháp luật cho nên được pháp luật công nhận đây là hôn nhân hợp pháp và cần giải quyết hậu quả phát sinh từ cuộc hôn nhân này.

Trong quá trình chung sống theo chị Ltrình bày do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã và không tìm được tiếng nói chung trong đời sống hôn nhân, vợ chồng thường xuyên cãi vã. Chị Lvà anh Pđã sống ly thân từ cuối năm 2022 đến nay, khi xảy ra mâu thuẫn chị Lvà anh Pđã nhiều lần hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không được và vợ chồng tiếp tục xảy ra mâu thuẫn. Hiện nay chị Lvà anh Pkhông còn chung sống với nhau như vợ chồng, anh chị đều có công việc riêng và có cuộc sống riêng không ai quan tâm, chăm sóc cho ai. Theo đơn khởi kiện cũng như trong quá trình giải quyết vụ án chị Lvẫn

cương quyết xin ly hôn với anh Đoàn Thanh P.

Hội đồng xét xử xét thấy theo quy định tại Khoản 1 Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 “vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Đối chiếu với quan hệ hôn nhân giữa chị Lvà anh Pthì hiện nay, anh chị đã sống ly thân, mỗi người đều có cuộc sống riêng. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng thực trạng mâu thuẫn giữa chị Lvà anh Pđã đến mức trầm trọng, hiện nay anh chị không còn sống chung với nhau như vợ chồng, anh chị không còn thương yêu và chăm sóc lẫn nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Kim L.

[3.2] Về con chung: Xét yêu cầu của chị Nguyễn Thị Kim L yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Đoàn Nguyễn M(Nữ, sinh ngày 15-11-2009) cho đến khi cháu Mđủ 18 (mười tám) tuổi. Hội đồng xét xử thấy, khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Nhận thấy, từ khi chị Lvà anh Psống ly thân cho đến nay thì cháu Mđều do chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng về tâm lý phát triển bình thường, được đi học đầy đủ. Tại biên bản ghi nhận ý kiến nguyện vọng của con chưa thành niên lập ngày 28 tháng 5 năm 20204, cháu Mtrình bày có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với mẹ là chị Nguyễn Thị Kim L.

Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử thấy rằng nhằm để đảm bảo sự phát triển lành mạnh về thể chất, ổn định cuộc sống cũng như tâm sinh lý của cháu Đoàn Nguyễn M nên việc giao cháu Đoàn Nguyễn M cho chị Nguyễn Thị Kim L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Do đó, căn cứ vào các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu Đoàn Nguyễn M (Nữ, sinh ngày 15-11-2009) cho chị Nguyễn Thị Kim L tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Mđủ 18 (mười tám) tuổi. Anh Đoàn Thanh P được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh Pthực hiện quyền này, theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[3.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con”. Đáng lẽ ra, anh Đoàn Thanh P là người không trực tiếp nuôi con thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án chị Lcho rằng hiện nay chị có công việc làm ổn định, thu nhập hằng tháng của chị Lđảm bảo nên chị Lcó khả năng, điều kiện để nuôi dưỡng cháu Mnên chị Ltự nguyện không yêu cầu anh Pcấp dưỡng nuôi cháu Đoàn Nguyễn M(Nữ, sinh ngày 15-11-2009). Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[3.4] Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Kim L tự khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

[3.5] Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị Kim L tự khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

[3] Xét đề nghị của Kiểm sát viên như đã nhận định nêu trên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1,3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim L.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim L được ly hôn với anh Đoàn Thanh P.

2. Về con chung:

2.1 Giao con chung tên Đoàn Nguyễn M (Nữ, sinh ngày 15-11-2009) cho chị Nguyễn Thị Kim L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Đoàn Nguyễn M(Nữ, sinh ngày 15-11-2009) đủ 18 (mười tám) tuổi.

2.2 Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị Kim L tự khai có khả năng, điều kiện nuôi dưỡng cháu Đoàn Nguyễn M(Nữ, sinh ngày 15-11-2009) và tự nguyện không yêu cầu anh Đoàn Thanh P cấp dưỡng nuôi cháu Đoàn Nguyễn M (Nữ, sinh ngày 15-11-2009) nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

2.3 Sau khi ly hôn, anh Đoàn Thanh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con

chung tên Đoàn Nguyễn M(Nữ, sinh ngày 15-11-2009), chị Nguyễn Thị Kim L cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở. Anh Đoàn Thanh P không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

3. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Kim L tự khai không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4. Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị Kim L tự khai không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003494 ngày 11 tháng 4 năm 2024, chị Nguyễn Thị Kim L đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

5. Nguyên đơn; bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung), thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng;
  • - Chi cục THADS huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng;
  • - TAND tỉnh Sóc Trăng (Phòng KTNV&THA);
  • - UBND xã Mỹ Hương, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thu Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2024/HNGĐ-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn và tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 60/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger