Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN MINH

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2024/HS-ST

Ngày 12-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thanh Tuyền

Bà Hồ Thị Hoa

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đông Hải - Kiểm sát viên

Ngày 12 tháng 7 năm 2024 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 62/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Duy C (tên gọi khác Tú T), sinh ngày 22 tháng 3 năm 1993 tại Rạch G, Kiên Giang; CCCD số [...]; Nơi cư trú: 67 N, tổ H, khu phố N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Làm móng; trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị L1; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không; Về nhân thân: Ngày 29/8/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, tại Bản án số 211/2014/HS-ST; Bị cáo bị tạm giữ ngày 16/01/2024, chuyển sang tạm giam ngày 25/01/2024 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
  2. Nguyễn Văn S, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1996 tại K, Kiên Giang; CCCD (chưa có); Nơi thường trú: ấp B, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang; Nơi ở hiện tại: khu phố V, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 2/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn H (đã chết) và bà Huỳnh Thị X; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ ngày 16/01/2024, chuyển sang tạm giam ngày 25/01/2024 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.

2

Bị hại:

  • Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1993. Địa chỉ: ấp T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).
  • Chị Võ Xuân C1, sinh năm 1988. Địa chỉ: ấp H, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 00 giờ ngày 16/01/2024, bị can Nguyễn Duy C điều khiển xe mô tô hiệu Attila màu trắng biển kiểm soát 68G1 - 137.96 chở bị can Nguyễn Văn S đi từ thành phố R, tỉnh Kiên Giang đến huyện A, tỉnh Kiên Giang để tìm tài sản trộm. Khi đến dốc Cầu treo Thứ Mười Một thuộc khu phố B, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang thì dừng xe lại, C quan sát thấy ghe mua rơm của anh Nguyễn Văn T1 đang neo đậu cặp bờ kè dưới dốc cầu treo, C bước xuống xe rồi đi đến gần chiếc ghe, còn S ngồi trên xe đợi và cảnh giới, C quan sát thấy 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 màu trắng của anh T1 để trong mui ghe, lợi dụng lúc anh T1 ngủ say, C lén lút xuống ghe lấy trộm cái điện thoại trên rồi quay ra xe. Bị can C tiếp tục điều khiển xe chở bị can S đi qua cầu treo rồi đi về hướng xã Đ, khi đi được một đoạn thì bị can C lấy chiếc điện thoại vừa trộm được đưa cho bị can S cất giữ rồi tiếp tục điều khiển xe chở S về hướng xã Đ. Khi đi ngang nhà chị Võ Xuân C1 thuộc ấp H, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang các bị can thấy cửa nhà không khóa nên cả hai xuống đi bộ dắt xe qua trước cửa nhà của chị C1 02 lần để quan sát, thấy chị C1 ngủ say và để điện thoại đang phát nhạc gần đó, nên bị can C đi vào trong nhà lén lúc lấy trộm 01 điện thoại hiệu Iphone 6 Plus và 01 cái bọc nylon màu trắng bên trong có số tiền 700.000 đồng (Bảy trăm ngàn đồng), bị can S thì ở ngoài đợi, sau khi lấy trộm được tài sản bị can C nhanh chóng điều khiển xe chở bị can S tẩu thoát. Khi đi đến khu vực Cống Xẻo N, bị can C đưa cái bọc đựng tiền và chiếc điện thoại trộm được cho bị can S cất giữ, rồi tiếp tục điều khiển xe đi theo tuyến lộ 964 về hướng xã T. Khi hai bị can đang lưu thông đến đoạn đường thuộc tổ B, ấp I, xã T thì bị người dân và lực lượng Công an xã T chốt chặn, kiểm tra phát hiện bắt giữ cùng tang vật.

Tại Cơ quan điều tra, bị can Nguyễn Duy C thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội trộm cắp tài sản. Riêng bị can Nguyễn Văn S không thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản cùng bị can Nguyễn Duy C, nhưng căn cứ vào các tài liệu chứng cứ như: Hình ảnh từ camera an ninh và lời khai của bị can C, lời khai của các nhân chứng, có đủ căn cứ để xác định bị can S đồng phạm với bị can C.

3

Tại Kết luận định giá tài sản số: 06/KL-HĐĐGTS ngày 15/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện A, kết luận: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 plus màu vàng đồng mua năm 2017 có giá trị 1.700.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 màu trắng mua năm 2020 có giá trị 1.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản cần định giá là 2.700.000 đồng.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A đã tạm giữ số vật chứng sau: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 plus màu vàng đồng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 màu trắng; 01 (một) xe mô tô hiệu Attila màu trắng biển kiểm soát 68G1 - 137.96.

Về trách nhiệm dân sự, Những người bị hại đã nhận lại tài sản và được bồi thường xong, không có yêu cầu gì thêm.

Tại Cáo trạng số 52/CT-VKS-AM ngày 13-5-2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Nguyễn Duy Cường và Nguyễn Văn Sơn về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

- Kiểm sát viên kết luận bị cáo Nguyễn Duy CNguyễn Văn S phạm tội trộm cắp tài sản và đề nghị:

  • + Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Duy C từ 09 đến 12 tháng tù.
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S từ 06 đến 09 tháng tù.

Về vật chứng, đã giao trả lại cho bị hại 02 chiếc điện thoại di động; đối với chiếc xe môtô hiệu Attila màu trắng, biển kiểm soát 68G1-137.96 của bị cáo Nguyễn Văn S dùng làm phương tiện để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về trách nhiệm dân sự, bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và được bồi thường xong, bị hại không yêu cầu gì thêm nên đề nghị không xem xét.

- Bị cáo Nguyễn Duy CNguyễn Văn S thừa nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản đúng như nội dung Cáo trạng và luận tội đã nêu. Trong lời nói sau cùng bị cáo trình bày đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của bản thân gây ra, xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Bị hại đã nhận lại được tài sản, không yêu cầu gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

4

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị hại T1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, thấy việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử nên HĐXX xét xử vắng mặt đối với anh T1.

[2] Về hành vi phạm tội, tội danh:

[2.1] Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Trong ngày 16/01/2024 Nguyễn Duy C đã 02 lần thực hiện hành vi lén lút lấy trộm tài sản của người khác cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Vào ngày 16/01/2024 tại khu phố B, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang, Nguyễn Duy C lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 7 màu trắng của ông Nguyễn Văn T1, được định giá có giá trị là 1.000.000 đồng.

Vụ thứ hai: Sau khi lấy trộm chiếc điện thoại di động của ông T1 thì Nguyễn Duy CVõ Văn S1 đi đến nhà chị Võ Xuân C1ấp H, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên GiangC lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 6 plus, màu vàng đồng của chị C1, được định giá có giá trị là 1.700.000 đồng và số tiền 700.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản bị cáo C chiếm đoạt của ông T1 và chị C1 là 3.400.000 đồng.

[2.2] Đối với Nguyễn Văn S tuy không trực tiếp thực hiện hành vi lấy trộm tài sản của ông T1 và chị C1 nhưng khi C vào lấy trộm thì S ở ngoài xe cảnh giới để tránh sự phát hiện của người khác và sau khi C lấy trộm được tài sản thì giao cho S cất giữ, sau đó cả hai nhanh chóng tẩu thoát khỏi hiện trường. Như vậy, S đã có hành vi giúp sức cho C để C lấy trộm được tài sản của ông T1 và chị C1 nên là đồng phạm với C.

[2.3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của bị hại; khi thực hiện hành vi, các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; có khả năng nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn thực hiện

5

nên thuộc trường hợp phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp; bị cáo C là người trực tiếp thực hiện hành vi lén lút để chiếm đoạt tài sản, bị cáo S là người giúp sức cho bị cáo C chiếm đoạt tài sản và tài sản bị cáo C chiếm đoạt có tổng giá trị là 3.400.000 đồng, đây là tình tiết định tội theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo phạm tội có tính chất giản đơn, trước khi thực hiện hành vi không bàn bạc hay phân công nhiệm vụ gì, trong đó bị cáo C là người thực hành, bị cáo S là người giúp sức. Do đó, Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo Nguyễn Duy CVõ Văn S1 phạm tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Về hình phạt:

[3.1] Về tình tiết tăng nặng, tính chất của vụ án: Các bị cáo 02 lần thực hiện hành vi phạm tội nhưng từng lần không đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự, do đó các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên. Hành vi của các bị cáo gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, gây tâm lý lo lắng, bất an trong nhân dân. Do đó, HĐXX cần xử phạt các bị cáo hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội các bị cáo đã gây ra, nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo C thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại; bị hại chị C1 xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo CS1 nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo S1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra không thừa nhận hành vi phạm tội nhưng tại phiên tòa đã khai nhận hành vi, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[3.3] Về quyết định hình phạt, HĐXX thấy các bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng nhưng gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội nên cần áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn, Khi quyết định mức hình phạt thấy trong vai trò đồng phạm bị cáo C là người trực tiếp trộm cắp tài sản, bị cáo có nhân thân xấu, đã bị kết án về tội mua bán trái phép chất ma túy, tuy đã được xóa án tích nhưng lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên mức hình phạt cao hơn bị cáo S1. Thấy các bị cáo đồng phạm giản đơn, giá trị tài sản chiếm đoạt thấp nên chỉ cần xử phạt ở mức đầu khung hình phạt là phù hợp với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của từng bị cáo.

6

[4] Về trách nhiệm dân sự, tài sản các bị cáo chiếm đoạt cơ quan Công an đã thu hồi và giao trả lại cho bị hại và bị cáo C đã bồi thường thiệt hại cho chị C1, bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.

[5] Về vật chứng, 02 chiếc điện thoại di động đã giao trả cho bị hại nhận nên không xem xét; đối với chiếc xe môtô hiệu Attila màu trắng, biển kiểm soát 68G1-137.96 của bị cáo Nguyễn Văn S dùng làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[6] Về án phí, bị cáo CS mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy CNguyễn Văn S phạm tội Trộm cắp tài sản.
    1. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Duy C 07 (bảy) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 16/01/2024).
    2. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 06 (sáu) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 16/01/2024).
  2. Về trách nhiệm dân sự, không xem xét.
  3. Về biện pháp tư pháp, áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) xe mô tô hiệu Attila màu trắng, biển kiểm soát 68G1-137.96 (hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh đang quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 25/QĐ-VKS-AM ngày 13-5-2024 của VKSND huyện An Minh).
  4. Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Nguyễn Duy CNguyễn Văn S mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Bị cáo, bị hại (C1) có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 12-7-2024). Bị hại (T1) vắng

7

mặt nên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - VKS huyện, tỉnh;
  • - Toà án tỉnh KG;
  • - Cơ quan THAHS huyện AM;
  • - Cơ quan THADS huyện AM;
  • - Bị cáo; Bị hại; NLQ;
  • - Sở TP tỉnh KG;
  • - Công an huyện, tỉnh;
  • - UBND P. Vĩnh Thanh, RG, KG;
  • - UBND P. Vĩnh Quang, RG, KG;
  • - Lưu Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Lê Chí Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 60/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Duy C và Ngô Van S trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger