|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 60/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 12-4-2024
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM – BẾN TRE
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phượng Tường.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Phương Nga.
- Ông Nguyễn Văn Thuận.
- Thư ký phiên Tòa: Bà Võ Thị Lan Chi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm tham gia phiên tòa:
Bà Huỳnh Thị Duyên Em – Kiểm sát viên.
Ngày 12/4/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 534/2023/TLST–HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11/3/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 75/2024/QÐST-HNGĐ ngày 27/3/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Trúc G, sinh năm 1987.
- Bị đơn: Anh Phạm Hoàng N, sinh năm 1986.
Địa chỉ: số nhà E, ấp D, xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre.
Chỗ ở hiện nay: 229, ấp D, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre (vắng có đơn).
Địa chỉ: số nhà E, ấp D, xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Trần Thị Trúc G trình bày:
Chị và anh N tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre vào ngày 28/11/2013. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm nên thường xuyên cự cãi, anh N cờ bạc, không lo cho gia đình nên chị về nhà cha mẹ ruột sống cho đến nay. Nay chị yêu cầu ly hôn với anh N. Chị và anh N có một con chung là Phạm Thiên K, sinh ngày 23/12/2015, hiện con đang sống với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con, tự nguyện không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình tố tụng, bị đơn anh Phạm Hoàng N vắng mặt không có lý do và không có văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu của chị Trần Thị Trúc G.
Tại phiên tòa:
Chị Trần Thị Trúc G vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Anh Phạm Hoàng N vắng mặt không có lý do.
Quan điểm của Viện kiểm sát:
- Về thủ tục: Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Nguyên đơn chị G đã thực hiện đúng quy định tại các điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Bị đơn anh N không có ý kiến về việc giải quyết vụ án là chưa thực hiện đúng quy định tại các điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.
- Về nội dung: căn cứ quy định tại các điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Trúc G. Chị Trần Thị Trúc G được ly hôn với anh Phạm Hoàng N.
Về con chung: giao Phạm Thiên K, sinh ngày 23/12/2015 cho chị G trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng đến lúc đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con: ghi nhận chị G không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị G khai không có nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về thủ tục: Chị Trần Thị Trúc G khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con với anh Phạm Hoàng N; anh N có địa chỉ tại huyện G, tỉnh Bến Tre. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
Tại phiên toà, nguyên đơn chị G vắng nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; riêng bị đơn anh N mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, việc đưa vụ án ra xét xử là phù hợp với quy định tại các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
[1] Về hôn nhân: Chị Trần Thị Trúc G và anh Phạm Hoàng N tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã P vào ngày 28/11/2013. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị G và anh N là hợp pháp. Chị G yêu cầu được ly hôn với anh N, Hội đồng xét xử xét thấy:
Trong thời gian chung sống, do bất đồng quan điểm nên chị G và anh N thường xuyên cự cãi, anh N tham gia cờ bạc, không lo cho gia đình nên phát sinh mâu thuẫn. Trong quá trình tố tụng, chị G xác định chị đã ly thân và không còn quan hệ tình cảm với anh N, chị giữ nguyên yêu cầu ly hôn và yêu cầu xét xử vắng mặt. Đồng thời, anh N mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không tham gia các phiên hòa giải và vắng mặt tại phiên tòa không có lý do thể hiện việc không có thiện chí hàn gắn. Vì vậy, có cơ sở xác định tình trạng mâu thuẫn giữa hai bên đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài và không còn khả năng hàn gắn. Do đó, xét yêu cầu ly hôn của chị G là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật tại các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2] Về con chung: Phạm Thiên K, sinh ngày 23/12/2015, hiện tại cháu Thiên K đang sống với chị G. Hội đồng xét xử xét thấy, tại biên bản lấy ý kiến ngày 01/02/2024, cháu Thiên K có nguyện vọng sống với mẹ, anh N không có ý kiến tranh chấp nuôi con. Do đó xét yêu cầu trực tiếp nuôi con của chị G là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con, ghi nhận chị G tự nguyện không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung.
[3] Về tài sản chung: Chị G khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về nợ chung: Chị G khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Xét đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: chị G phải nộp số tiền là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: chị Trần Thị Trúc G được ly hôn với anh Phạm Hoàng N.
- Về con chung: giao cháu Phạm Thiên K, sinh ngày 23/12/2015 cho chị Trần Thị Trúc G trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi. Ghi nhận chị Trần Thị Trúc G tự nguyện không yêu cầu anh Phạm Hoàng N cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: chị Trần Thị Trúc G khai tự thỏa thuận nên không xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: chị Trần Thị Trúc G khai không có nên không xem xét giải quyết.
- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: buộc chị Trần Thị Trúc G phải nộp số tiền là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0002546 ngày 21/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm. Do đó, án phí sơ thẩm, chị Trần Thị Trúc G đã nộp xong.
Anh Phạm Hoàng N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Phượng Tường |
Bản án số 60/2024/HNGĐ-ST ngày 12/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 60/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị G yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con với anh N
