Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG THÀNH

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 60/2024/DS-ST.

Ngày: 11/7/2024.

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Ba.

Bà Nguyễn Thị Thu Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Diễm, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tình - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành mở phiên Tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 163/2024/TLST-DS ngày 15 tháng 4 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2024/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 576/2024/QĐST-DS ngày 20/6/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Tổ chức tài chính vi mô Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên cho người lao động nghèo tự tạo việc làm (CEP).

Địa chỉ trụ sở chính: 14C, đường Cách Mạng Tháng Tám, phường Bến Thành, Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ chi nhánh: 175 Lê Duẩn, khu Phước Hải, thị trấn Long Thành, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Hoàng V – chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đoàn Thanh P – chức vụ: Giám đốc chi nhánh L (vắng mặt).

(Văn bản ủy quyền số 638/2023 ngày 29/6/2023).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu H, sinh năm 1986 (vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ B, khu K, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện ghi ngày 19/3/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án ông Đoàn Thanh P đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 12 tháng 7 năm 2023 thông qua UBND thị trấn L, ông Nguyễn Hữu H có vay tại Tổ chức Tài chính vi mô CEP – C số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), lãi suất trên vốn vay 0,76%/tháng, thời hạn 40 tuần. Trong quá trình hoàn trả ông Nguyễn Hữu H không thực hiện theo đúng hợp đồng, tính đến ngày 30/10/2023 ông Nguyễn Hữu H đã trả số tiền gốc là 11.155.139 đồng, số tiền lãi là 855.000 đồng. Số tiền còn nợ, bao gồm nợ gốc 18.844.861 đồng và nợ lãi 1.425.000 đồng. Tổ chức Tài chính vi mô CEP – chi nhánh L đã nhiều lần cử nhân viên đến nhà để làm việc, tuy nhiên ông Nguyễn Hữu H cố tình lẩn tránh, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

Nay Tổ chức Tài chính vi mô CEP đề nghị Tòa án nhân dân huyện Long Thành yêu cầu ông Nguyễn Hữu H hoàn trả cho Tổ chức Tài chính vi mô CEP số tiền nợ gốc là 18.844.861 đồng (Mười tám triệu tám trăm bốn mươi bốn ngàn tám trăm sáu mươi mốt đồng) và nợ lãi 1.425.000 đồng (Một triệu bốn trăm hai mươi lăm ngàn đồng). Tổng nợ còn lại 20.269.861 đồng (Hai mươi triệu hai trăm sáu mươi chín ngàn tám trăm sáu mươi mốt đồng). Phía nguyên đơn không yêu cầu ông H phải trả lãi chậm thi hành án hay bất cứ khoản lãi nào khác sau khi Tòa án xét xử.

Số tiền trên là do cá nhân ông H vay không liên quan đến ai khác nên nay Tổ chức Tài chính vi mô CEP chỉ yêu cầu một mình ông H có trách nhiệm trả tiền, không yêu cầu ai khác liên đới trả cùng.

- Bị đơn ông Nguyễn Hữu H đã được tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không đến Tòa làm việc nên không ghi được lời khai và không tiến hành hòa giải được.

- Ý kiến của Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn như cung cấp tài liệu, chứng cứ, lấy lời khai và tham gia phiên tòa được thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự

Về đường lối giải quyết vụ án:

Chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án do nguyên đơn cung cấp xác định: Ngày 12 tháng 7 năm 2023, ông H có vay tại Tổ chức Tài chính vi mô CEP – C số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), lãi suất trên vốn vay 0,76%/tháng, thời hạn 40 tuần.

Trong quá trình hoàn trả ông H không thực hiện theo đúng hợp đồng, tính đến ngày 30/10/2023 ông H đã hoàn trả số tiền gốc là 11.155.139 đồng (Mười một triệu một trăm năm mươi lăm ngàn một trăm ba mươi chín đồng), đã hoàn trả số tiền lãi là 855.000 đồng (T trăm năm mươi lăm ngàn đồng). Số tiền còn nợ, bao gồm nợ gốc 18.844.861 đồng (Mười tám triệu tám trăm bốn mươi bốn ngàn tám trăm sáu mươi mốt đồng) và nợ lãi 1.425.000 đồng (Một triệu bốn trăm hai mươi lăm ngàn đồng). Sau ngày 30/10/2023 đến nay ông H không thành toán số tiền nào mặc dù Tổ chức Tài chính vi mô CEP đã nhiều lần cử nhân viên đến nhà để làm việc, tuy nhiên ông Nguyễn Hữu H cố tình lẩn tránh, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

Tổ chức Tài chính vi mô CEP yêu cầu ông H hoàn trả số tiền nợ gốc 18.844.861 đồng (Mười tám triệu tám trăm bốn mươi bốn ngàn tám trăm sáu mươi mốt đồng) và nợ lãi 1.425.000 đồng (Một triệu bốn trăm hai mươi lăm ngàn đồng). Tổng là 20.269.861 đồng (Hai mươi triệu hai trăm sáu mươi chín ngàn tám trăm sáu mươi mốt đồng), không yêu cầu ông H phải trả lãi chậm thi hành án hay bất cứ khoản lãi nào khác sau khi Tòa án xét xử.

Xét thấy ông H đã vi phạm hợp đồng vay vốn, không thanh toán cho Tổ chức Tài chính vi mô CEP từ sau ngày 30/10/2023 cho đến nay, dù Tổ chức Tài chính vi mô CEP đã nhiều lần yêu cầu thanh toán nhưng vẫn không thực hiện.

Căn cứ theo Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự 2015; Điều 91, 95 Luật tổ chức tín dụng năm 2010, có đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn: Buộc ông H hoàn trả số tiền nợ gốc 18.844.861 đồng (Mười tám triệu tám trăm bốn mươi bốn ngàn tám trăm sáu mươi mốt đồng) và nợ lãi 1.425.000 đồng (Một triệu bốn trăm hai mươi lăm ngàn đồng). Tổng là 20.269.861 đồng (Hai mươi triệu hai trăm sáu mươi chín ngàn, tám trăm sáu mươi mốt đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Ông Đoàn Thanh P – Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Tổ chức Tài chính vi mô CEP có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt.

Bị đơn ông Nguyễn Hữu H đã được tống đạt hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông H.

[2]. Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Nguyễn Hữu H có đăng ký thường trú và hiện đang sinh sống tại Tổ B, khu K, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3]. Về quan hệ pháp luật: Quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[4]. Về áp dụng pháp luật: Căn cứ vào hợp đồng vay vốn ngày 12/7/2023 thì xác định việc vay tài sản giữa ông Nguyễn Hữu H với Tổ chức tài chính vi mô CEP – Chi nhánh L được thực hiện vào thời điểm Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành, Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13 để giải quyết.

[5]. Về nội dung: Theo đơn khởi kiện ngày 19/3/2024 nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn ông Nguyễn Hữu H thanh toán số tiền nợ gốc 18.844.861 đồng và nợ lãi 1.425.000 đồng. Tổng cộng số nợ còn lại 20.269.861 đồng (Hai mươi triệu hai trăm sáu mươi chín ngàn tám trăm sáu mươi mốt đồng), không yêu cầu tính lãi suất.

Quá trình làm việc từ khi thụ lý đến khi xét xử Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn ông Nguyễn Hữu H đến Tòa làm việc và cung cấp ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng ông H không đến Tòa án làm việc và cũng không có văn bản phản hồi. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp đã có đủ cơ sở để xác định vào ngày 12/7/2023 ông Nguyễn Hữu H có ký hợp vay vốn với Tổ chức tài chính vi mô CEP – Chi nhánh L để vay số tiền 30.000.000 đồng; thời hạn vay 40 tuần. Lãi suất là 0,19%/tuần tương đương với 18,62%/năm.

[6]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về số tiền nợ gốc: Theo hợp đồng vay vốn ngày 12/7/2023 được ký kết giữa hai bên thể hiện bên vay có nghĩa vụ trả nợ gốc định kỳ hàng tuần một lần, số tiền gốc mỗi kỳ là 738.000 đồng, trả trong 39 kỳ đầu, số tiền trả gốc cuối kỳ là 1.218.000 đồng. Theo các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp thể hiện ông H trả tiền gốc và lãi được đến hết ngày 30/10/2023 thì ngưng không trả nữa. Tính đến ngày 11/7/2024 ông Nguyễn Hữu H còn nợ số tiền gốc là 18.844.861 đồng.

Do ông H vi phạm hợp đồng mà hai bên đã ký kết. Vì vậy, nay nguyên đơn Tổ chức Tài chính vi mô CEP khởi kiện yêu cầu ông H phải trả lại toàn bộ số tiền gốc 18.844.861 đồng là có cơ sở chấp nhận.

Về lãi suất: Theo thỏa thuận trong hợp đồng vay vốn thì ông H phải thanh toán tiền lãi định kỳ hàng tuần một lần, số tiền lãi mỗi kỳ là 57.000 đồng, trả trong 40 kỳ, tuy nhiên quá trình thực hiện hợp đồng ông H không trả lãi đầy đủ mặc dù đã được Tổ chức Tài chính vi mô CEP nhiều lần nhắc nhở tạo điều kiện.

Do ông H vi phạm hợp đồng mà hai bên đã ký kết, vì vậy nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông H phải trả số tiền lãi còn nợ tính đến ngày 19/3/2024 với số tiền 1.425.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.

Đối với lãi suất chậm trả do nguyên đơn không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

[7]. Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Nguyễn Hữu H phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 26 và điểm b khoản 2 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Hoàn trả cho Tổ chức Tài chính vi mô CEP số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 227, 228, 235, 238, 244, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 351, 463, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 91, 95 Luật tổ chức tín dụng 2010;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” của nguyên đơn Tổ chức tài chính vi mô Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên cho người lao động nghèo tự tạo việc làm (CEP) đối với bị đơn ông Nguyễn Hữu H.
  2. Buộc ông Nguyễn Hữu H phải có trách nhiệm thanh toán cho Tổ chức tài chính vi mô Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên cho người lao động nghèo tự tạo việc làm (CEP) tổng số tiền nợ là 20.269.861 đồng (Hai mươi triệu hai trăm sáu mươi chín ngàn tám trăm sáu mươi mốt đồng). Trong đó tiền gốc là 18.844.861 đồng (Mười tám triệu tám trăm bốn mươi bốn ngàn tám trăm sáu mươi mốt đồng) và nợ lãi là 1.425.000 đồng (Một triệu bốn trăm hai mươi lăm ngàn đồng).

  3. Về án phí: Ông Nguyễn Hữu H phải chịu 1.013.493 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Hoàn trả cho Tổ chức tài chính vi mô trách nhiệm hữu hạn một thành viên cho người lao động nghèo tự tạo việc làm (CEP) số tiền 500.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0015566 ngày 08/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành.

  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn Tổ chức tài chính vi mô Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên cho người lao động nghèo tự tạo việc làm (CEP), bị đơn ông Nguyễn Hữu H có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Long Thành;
  • - THA huyện Long Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán-Chủ tọa phiên Tòa

Nguyễn Văn Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2024/DS-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 60/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger