Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC KẠN

TỈNH BẮC KẠN

Bản án số: 60/2024/HS-ST

Ngày 10/7/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Tạ Văn Tư

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nông Văn Vinh

2. Ông Nông Năng Quân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Sỹ Cách - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Ông Hoàng Đức Biên - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 7 năm 2024, Tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 63/2024/HSST, ngày 21 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Trương Quang Đ sinh ngày 10/5/1979; Nơi ĐKHKTT: Khu phố P, phường N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; Chỗ ở hiện nay: Tiểu khu A, thị trấn N, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trương Quang H (đã chết) và bà Vũ Thị N. Có vợ là Trương Thị S và 02 con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/3/2024 đến ngày 12/3/2024 thì được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn. Hiện bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trương Thị S sinh năm 1987; Địa chỉ: Tiểu khu A, thị trấn N, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 10 phút, ngày 04/3/2024 tại khu vực tổ Lâm Trường, phường Huyền Tụng, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - Ma Túy Công an thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn bắt quả tang đối với Trương Quang Đ có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Phát hiện và thu giữ trong lòng bàn tay trái của Đ có 01 (một) gói được gói bằng giấy màu nâu (loại giấy ăn) được buộc bằng dây chun màu vàng, bên trong có 01 (một) túi nilon màu trắng, trên mặt có chữ và số in, bên trong có chứa chất dạng cục và bột màu trắng nghi là ma túy loại heroine (được niêm phong trong phong bì ký hiệu A1). Ngoài ra, còn tạm giữ của Trương Quang Đ 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát 97B1-355... cùng chìa khóa xe.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Kạn tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng chất dạng cục và bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 thu giữ của Trương Quang Đ, xác định tổng khối lượng là 0,57g (không phẩy năm bảy gam). Sau khi cân xác định khối lượng, toàn bộ số chất dạng cục và bột màu trắng nói trên được niêm phong vào phong bì ký hiệu M1 gửi giám định; vỏ phong bì ký hiệu A1, giấy gói cũ, dây chun màu vàng, túi nilon màu trắng trên mặt có chữ và số in được niêm phong vào phong bì ký hiệu M2 bảo quản theo quy định.

Tại Kết luận giám định số 99/KL-KTHS ngày 08/3/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: Mẫu chất dạng cục và bột màu trắng trong phong bì ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,57g (không phẩy năm bảy gam). Sau giám định, mẫu chất còn lại cùng phong bì, bao gói cũ niêm phong vào phong bì T65 hoàn trả lại Cơ quan điều tra.

Tại Cơ quan điều tra, Trương Quang Đ khai nhận: Toàn bộ số chất dạng cục và bột màu trăng bị thu giữ khi bắt quả tang là ma túy, loại heroine của Đ tàng trữ với mục đích để sử dụng cho bản thân. Về nguồn gốc số ma tuý, Đ khai nhận: Bản thân Đ là người nghiện ma túy, khoảng 10 giờ 00 ngày 04/3/2024, Đ điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát 97B1-355... đi từ nhà tại khu vực Tiểu khu A, thị trấn N, huyện N, tỉnh Bắc Kạn đến thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn với mục đích tìm mua ma túy, loại heroine về để sử dụng cho bản thân. Khoảng 12 giờ 00 ngày 04/3/2024, Đ đến thành phố Bắc Kạn và đi vào khu vực đường liên thôn thuộc tổ Lâm Trường, phường Huyền Tụng, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn. Tại đây, Đ gặp một người đàn ông không rõ lai lịch, địa chỉ, mặc quần áo màu đen, đeo khẩu trang, Đ hỏi người này có ma túy loại heroine không thì người này nói là có. Đ đưa cho người đàn ông này số tiền 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) và người này bảo Đ đứng đợi sau đó đi đâu không rõ. Khoảng 05 (năm) phút sau người đàn ông này quay lại và đưa cho Đ 01 (một) gói ma tuý, loại heroine được gói bằng giấy màu nâu (loại giấy ăn) được buộc bằng dây chun màu vàng. Sau khi mua được ma tuý, Đ cất giấu gói ma tuý trong lòng bàn tay trái, còn người đàn ông đi đâu không rõ. Đ tiếp tục điều khiển xe ô tô đi tìm nơi sử dụng ma túy, khi đi đến đầu đường bê tông gần Quốc lộ 3 thuộc tổ Lâm Trường, phường Huyền Tụng, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn, Đ bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra vụ án.

Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Tại Cáo trạng số 47/CT-VKSTP ngày 21/6/2024 của VKSND thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn truy tố bị cáo Trương Quang Đ về tội “Tàng Trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự và tại bản luận tội của Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cụ thể như sau:

*Tuyên bố bị cáo Trương Quang Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trương Quang Đ từ 15 (mười lăm) tháng tù đến 18 (mười tám) tháng tù (được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 04/3/2024 đến ngày 12/3/2024). Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

*Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T65; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu M2.

- Tịch thu, hóa giá nộp ngân sách nhà nước ½ giá trị của chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại: WAVE, dung tích xi lanh 109 cm³, xe mô tô có 02 (hai) màu đỏ, đen biển kiểm soát 97B1-355..., loại xe: Hai bánh từ 50-175 cm³, xe đã qua sử dụng; số máy JA31E-0004..., số khung RLHJA3110EY001..., cùng chìa khóa xe và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 034... mang tên Trương Thị S, địa chỉ: Tiểu khu A, thị trấn N, huyện N, tỉnh Bắc Kạn do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bắc Kạn cấp ngày 04/4/2014. Còn ½ giá trị của chiếc xe mô tô trên trả lại cho bà Trương Thị S.

*Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng, mong Hội đồng xét xử xem xét xử với mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Bắc Kạn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đủ cơ sở kết luận: Hồi 12 giờ 10 phút, ngày 04/3/2024, tại khu vực tổ Lâm Trường, phường Huyền Tụng, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn, Trương Quang Đ có hành vi tàng trữ trái phép 0,57 (không phẩy năm bảy) gam ma túy, loại Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang.

[3] Hành vi nêu trên của Trương Quang Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Điều luật có nội dung:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

... c) Hêrôin ...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam ”

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 5 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Cáo trạng số 47/CT-VKSTP ngày 21/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là cố ý, đã vi phạm chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước, ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an - xã hội của địa phương. Vì vậy, phải được xử lý bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là: “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Ngoài ra, bị cáo có bố đẻ tham gia kháng chiến và bị nhiễm chất độc hóa học nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét bị cáo có sức khỏe, mà lại lao vào con đường nghiện chất ma tuý; nên khi xem xét lượng hình cần phải có một hình phạt thỏa đáng tương ứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Bị cáo đã có thời gian bị tạm giữ nên được tính vào thời gian thụ hình cho bị cáo.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo vào ngày 04/3/2024, do bị cáo không biết họ tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để điều tra, xử lý.

[6] Hình phạt bổ sung: Bị cáo nghiện chất ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng.

[7] Về vật chứng trong vụ án:

- 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T65 và 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu M2. Tất cả đều không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại: WAVE, dung tích xi lanh 109 cm³, xe mô tô có 02 (hai) màu đỏ, đen biển kiểm soát 97B1-355..., loại xe: Hai bánh từ 50-175 cm³, xe đã qua sử dụng; số máy JA31E-0004..., số khung RLHJA3110EY001..., cùng chìa khóa xe và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 034... mang tên Trương Thị S, địa chỉ: Tiểu khu A, thị trấn N, huyện N, tỉnh Bắc Kạn do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bắc Kạn cấp ngày 04/4/2014. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định chiếc xe mô tô này là tài sản chung của vợ chồng, được hình thành trong thời kỳ hôn nhân giữa bị cáo và vợ là Trương Thị S, nên cần tuyên tịch thu, hóa giá nộp ngân sách nhà nước ½ giá trị của xe mô tô; còn ½ giá trị của xe mô tô trả lại cho bà Trương Thị S là phù hợp với quy định của pháp luật.

[8] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt và xử lý vật chứng là phù hợp với nhận định trên nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Trương Quang Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt: Bị cáo Trương Quang Đ 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại thụ hình (được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 04/3/2024 đến ngày 12/3/2024).

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T65; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu M2.

- Tịch thu, hóa giá nộp ngân sách nhà nước ½ giá trị của chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại: WAVE, dung tích xi lanh 109 cm³, xe mô tô có 02 (hai) màu đỏ, đen biển kiểm soát 97B1-355..., loại xe: Hai bánh từ 50-175 cm³, xe đã qua sử dụng; số máy JA31E-0004..., số khung RLHJA3110EY001..., cùng chìa khóa xe và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 034... mang tên Trương Thị S, địa chỉ: Tiểu khu A, thị trấn N, huyện N, tỉnh Bắc Kạn do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bắc Kạn cấp ngày 04/4/2014. Còn ½ giá trị của chiếc xe mô tô trên trả lại cho bà Trương Thị S.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 27/6/2024 giữa Công an thành phố Bắc Kạn và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí. Buộc bị cáo Trương Quang Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Kạn (01b);
  • - VKSND tỉnh Bắc Kạn (01b);
  • - VKSND thành phố Bắc Kạn (01b);
  • - Công an thành phố Bắc Kạn (02b);
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn
  • (Khi án có hiệu lực - 01b);
  • - Sở Tư pháp;
  • - Người tham gia tố tụng (01b);
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tạ Văn Tư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 60/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Quang Đ - Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger