Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÁNH LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 10-7-2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Trường Bảo và Bà Đinh Thị Nguyệt.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Lương Thị Tâm - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 131/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024; Thông báo thời gian mở lại phiên tòa số 31/2024/TB-TA ngày 25/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Tuyết V, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Thôn C, xã S, huyện T, tỉnh Bình Thuận: Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Trần Quốc Đ, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Thôn C, xã S, huyện T, tỉnh Bình Thuận: Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Trần Lê Nhật V1, sinh ngày 21/6/2009; Nơi cư trú: Thôn C, xã S, huyện T, tỉnh Bình Thuận: Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

+ Trần Lê Thị Vân T, sinh ngày 12/3/2001; Nơi cư trú: Thôn C, xã S, huyện T, tỉnh Bình Thuận: Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lê Thị Tuyết V trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị V và anh Đ tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2004 nhưng đến năm 2005 mới làm thủ tục đăng ký hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Vợ chồng chung sống không được bao lâu thì chị V và anh Đ thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Trước đây chị V đã nộp đơn ly hôn, nhưng đã rút đơn để cho anh Đ cơ hội vợ chồng chung sống với nhau nhưng anh Đ thường xuyên uống rượu, hay ghen tuông vô cớ, đánh đập, dùng những lời lẻ xúc phạm đến chị V. Do mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và kéo dài, hôn nhân không hạnh phúc nên chị V đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.

- Về con chung: Chị Lê Thị Tuyết V và anh Trần Quốc Đ có 03 người con chung tên Trần Lê Nhật P, sinh ngày 06/7/2005; Trần Lê Nhật V1, sinh ngày 21/6/2009; Trần Lê Thị Vân T, sinh ngày 12/3/2011. Hiện nay cháu P đã thành niên và có khả năng lao động nên chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi ly hôn chị V đề nghị Tòa án giải quyết giao cháu V1, cháu T cho chị V được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con thành niên. Chị V yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho chị V 2.000.000đ/tháng/02 người con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Đ đều vắng mặt không có lý do. Cho nên, Tòa án không thể ghi nhận ý kiến, lời khai hoặc yêu cầu của anh Đ về những vấn đề liên quan đến vụ án.

[3]. Những chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án:

- Chị Lê Thị Tuyết V cung cấp các tài liệu, chứng cứ: 01 bản sao căn cước công dân mang tên Lê Thị Tuyết V; 01 trích lục kết hôn; xác nhận thông tin về nơi cư trú; 01 giấy xác nhận thông tin về nơi cư trú; 03 giấy khai sinh (bản sao);

Anh Trần Quốc Đ không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành xác minh về tình trạng quan hệ hôn nhân của chị V, anh Đ và lấy lời khai đương sự.

[4]. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh phát biểu ý kiến như sau:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.

- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa xét xử sơ thẩm.

- Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình tuân thủ theo đúng quy định của BLTTDS. Tại phiên tòa, nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào các Điều 227, 228 tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng:

- Khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 146, 147, 203, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lê Thị Tuyết V được ly hôn với anh Trần Quốc Đ.

Về con chung: Giao cháu Trần Lê Nhật V1, sinh ngày 21/6/2009; Trần Lê Thị Vân T, sinh ngày 12/3/2011 cho chị Lê Thị Tuyết V nuôi dưỡng đến khi thành niên; anh Trần Quốc Đ phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho chị V số tiền 2.000.000đ/tháng/02 người con và được quyền thăm nom, chăm sóc con không ai được ngăn cản.

Về án phí: Chị Lê Thị Tuyết V phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm và anh Đ1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ đã được thẩm tra, xem xét tại phiên toà, căn cứ lời khai của các đương sự, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

Trong giai đoạn giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị Tuyết V, người có quyền, nghĩa vụ liên quan cháu Trần Lê Nhật V1, Trần Lê Thị Vân T đã làm đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Trần Quốc Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần, nhưng đều vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh đề nghị xét xử vắng mặt các đương sự. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Lê Thị Tuyết V và bị đơn anh Trần Quốc Đ, người có quyền, nghĩa vụ liên quan cháu Trần Lê Nhật V1, Trần Lê Thị Vân T là phù hợp.

[2]. Về quan hệ pháp luật trong vụ án và thẩm quyền giải quyết:

Nguyên đơn chị Lê Thị Tuyết V yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và tranh chấp nuôi con. Ngoài ra, các đương sự không có yêu cầu nào khác. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật của vụ án này là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – Chị Lê Thị Tuyết V:

3.1 [Về quan hệ hôn nhân]: Chị Lê Thị Tuyết V và anh Trần Quốc Đ tự nguyện kết hôn tại UBND xã S, huyện T, tỉnh Bình Thuận theo giấy chứng nhận kết hôn số 005/2005, ngày 02/02/2005. Chị V cho rằng, do anh Đ thường xuyên uống rượu nên hay ghen tuông, xúc phạm đến chị V nên cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Chị V không còn tình cảm với anh Đ nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

Tại biên bản xác minh ngày 24/5/2024 thể hiện: Hiện nay, chị V và anh Đ đã sống ly thân với nhau.

Xét thấy: Cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc nên chị V và anh Đ đã sống ly thân với nhau. Các bên không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Chị V không còn mong muốn tiếp tục chung sống với anh Đ nữa. Điều này chứng tỏ cuộc sống vợ chồng của chị V, anh Đ đã phát sinh mâu thuẫn trầm trọng; cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc; mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị V có căn cứ chấp nhận và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

3.2 [Về con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con]: Chị Lê Thị Tuyết V và anh Trần Quốc Đ có 03 người con chung tên Trần Lê Nhật P, sinh ngày 06/7/2005; Trần Lê Nhật V1, sinh ngày 21/6/2009; Trần Lê Thị Vân T, sinh ngày 12/3/2011.

Đối với Trần Lê Nhật P đã thành niên và có khả năng lao động nên chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét đến.

Thể hiện trong hồ sơ vụ án, chị V có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng hai người con chung Trần Lê Nhật V1 và Trần Lê Thị Vân T cho đến khi con thành niên.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệp tập hợp lệ nhưng anh Đ vắng mặt không có lý do nên Tòa án không thể ghi nhận yêu cầu của anh Đ liên quan đến vấn đề con chung.

Xét thấy: Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, chị V là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Trần Lê Nhật V1; Trần Lê Thị Vân T. Chị V có nguyện vọng được quyền nuôi cháu V1, cháu T cho đến khi thành niên. Thể hiện tại các biên bản lấy lời khai ngày 23/5/2024, 24/4/2024 thể hiện: Trần Lê Thị Vân T, Trần Lê Nhật V1 có nguyện vọng được sống với chị V. Do đó, để đảm bảo cho cháu V1, cháu T có điều kiện ổn định cuộc sống; phát triển tốt về thể chất và tinh thần thì cần giao cháu Trần Lê Nhật V1; Trần Lê Thị Vân T cho chị V được quyền nuôi dưỡng cho đến khi thành niên là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Chị Lê Thị Tuyết V yêu cầu Anh Trần Quốc Đ phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho chị V 2.000.000đ/tháng/02 người con.

Hội đồng xét xử xét thấy: Yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị V là chính đáng và phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, cần buộc anh Đ phải có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con hàng tháng cho chị V là 2.000.000đ/tháng (mỗi người con 1.000.000đ) là phù hợp với Điều 107, 110, 116 Luật HNGĐ năm 2014.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm liên quan đến cấp dưỡng theo khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5; điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; các Điều 107, 110, 116 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điểm a khoản 5; điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Tuyết V.

    Chị Lê Thị Tuyết V được ly hôn với anh Trần Quốc Đ.

  2. Về con chung: Giao cho chị Lê Thị Tuyết V được quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 02 người con chung tên Trần Lê Nhật V1, sinh ngày 21/6/2009; Trần Lê Thị Vân T, sinh ngày 12/3/2011 cho đến khi các con đủ 18 tuổi.

    Anh Trần Quốc Đ phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho chị Lê Thị Tuyết V 2.000.000đ/tháng (mỗi người con 1.000.000đ/tháng) và được quyền thăm nom, chăm sóc con; không ai được ngăn cản.

    Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

  3. Về án phí:

    - Chị Lê Thị Tuyết V phải nộp 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005814 ngày 01/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tánh Linh. Chị Lê Thị Tuyết V đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

    - Anh Trần Quốc Đ phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng tiền nuôi con.

  4. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND huyện Tánh Linh;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS huyện Tánh Linh;
  • - UBND xã Suối Kiết, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận (thay thông báo);
  • - Lưu: VP, án văn, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Yến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2024/HNGĐ-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 60/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Lê Thị Tuyết V ly hôn Trần Quốc Đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger