|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH TỈNH VĨNH LONG Bản án số: 60/2024/HNGĐ-ST Ngày 10-5-2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cảnh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Văn Hùng
- Ông Nguyễn Hoàng Tiến
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình: Không tham gia phiên tòa.
Ngày 10 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 61/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 53/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1991 – Có đơn vắng mặt
Nơi cư trú: Ấp G, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
Nơi ở hiện tại: Khu phố V, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
- Bị đơn: Anh Trương Duy S, sinh năm 1987 – Vắng mặt
Nơi cư trú: Ấp G, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 19/02/2024 và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị X1 trình bày:
Về hôn nhân: Chị X và anh S cưới nhau vào năm 2008, hôn nhân do quen biết, chị X và anh S tự nguyện kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn vào ngày 23/8/2009 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long. Thời gian vợ chồng hạnh phúc khoảng 14 năm, đến tháng 01 năm 2022 thì phát sinh vi phạm nghĩa vụ vợ chồng và ly thân cho đến nay.
Nguyên nhân phát sinh vi phạm nghĩa vụ vợ chồng chị X trình bày: Là do vợ chồng thường xuyên bất đồng ý kiến với nhau về các vấn đề trong cuộc sống, anh S đam mê cờ bạc và có người phụ nữ khác bên ngoài từ đó làm cho tình cảm vợ chồng không còn nữa, nên vợ chồng đã ly thân cho đến nay không trở về đoàn tụ.
- Về con chung: Chị X và anh S có hai người con chung tên là Trương Anh H, sinh ngày 02/7/2016 và Trương Anh H1, sinh ngày 15/6/2009. Hiện cháu H1 đang sống chung với chị X và cháu H đang sống với anh S.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Nguyễn Thị X không yêu cầu Tòa án giải quyết;
Bị đơn là anh Trương Duy S: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định tại các Điều 196, Điều 208 của Bộ luật Tố tụng dân sự cho anh S, nhưng anh S không có ý kiến gì bằng văn bản và vắng mặt đến lần thứ hai không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do vậy, Tòa án căn cứ vào điểm d khoản 3 Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
- Các tài liệu, chứng cứ của vụ án: Đã được Tòa án công khai tại Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ vào ngày 08/4/2024.
- Các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh:
Về hôn nhân: Căn cứ vào bản chính Giấy chứng nhận kết hôn giữa chị Nguyễn Thị X với anh Trương Duy S được Ủy ban nhân dân xã H, huyện T cấp ngày 23/8/2009 thì chị X và anh S là hôn nhân hợp pháp.
Về con chung: Căn cứ vào bản sao Giấy khai sinh được Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long cấp ngày 06/02/2017 và bản sao Giấy khai sinh được Ủy ban nhân dân thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang cấp ngày 03/11/2010 thì cháu Trương Anh H, sinh ngày 02/7/2016 và cháu Trương Anh H1, sinh ngày 15/6/2009 là con chung của chị Nguyễn Thị X với anh Trương Duy S.
- Các tình tiết, sự kiện mà các bên đương sự thống nhất, không thống nhất:
Trong quá trình giải quyết vụ án anh S không có ý kiến bằng văn bản và vắng mặt, do đó không xác định được sự thống nhất và không thống nhất của các đương sự trong vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu,chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ. Hội đồng xét xử nhận định:
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị X yêu cầu ly hôn với anh Trương Duy S về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại huyện T, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình.
- Về trình tự, thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Tam Bình tiến hành thụ lý, giải quyết vụ án theo đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các tài liệu chứng cứ do đương sự tự giao nộp, Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ, các bên đương sự là người đã thành niên, không bị nhược điểm về thể chất tâm thần nên vụ án không thuộc trường hợp Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp phải tham gia kiểm sát việc tuân thủ theo pháp luật tại phiên tòa, theo quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tòa án đã tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ cho anh Trương Duy S, nhưng anh Trương Duy S vẫn vắng mặt cả hai lần không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Trương Duy S.
Ngày 08/4/2024 chị Nguyễn Thị X có đơn yêu cầu xét xử vắng nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với chị Nguyễn Thị X.
[2]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Về hôn nhân: Xét yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị X với anh Trương Duy S là có cơ sở chấp nhận. Bởi lẽ, nguyên nhân phát sinh vi phạm nghĩa vụ vợ chồng giữa chị X và anh S do vợ chồng thường xuyên bất đồng ý kiến với nhau về các vấn đề trong cuộc sống, anh S đam mê cờ bạc và có người phụ nữ khác bên ngoài. Trong thời gian ly thân chị X và anh S không quan tâm chăm sóc với nhau, không tự đoàn tụ được với nhau. Chị X nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh S.
Xét thấy, hôn nhân giữa chị X và anh S đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3 Điều 2, Điều 19, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị X và anh S; cho chị Nguyễn Thị X được ly hôn với anh Trương Duy S.
- Về con chung: Xét yêu cầu nuôi con chung của chị X là cháu Trương Anh H1, sinh ngày 15/6/2009. Hội đồng xét xử, xét thấy từ khi chị X và anh S ly thân cho đến nay cháu H1 do chị X chăm sóc, nuôi dưỡng; đồng thời tại bản tự khai của cháu H1 thì cháu H1 có nguyện vọng sống với chị X sau khi chị X và anh S ly hôn với nhau. Do đó, Hội đồng xét xử giao cháu Trương Anh H1, sinh ngày 15/6/2009 cho chị X tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Chị X đồng ý tiếp tục giao con chung là Trương Anh H, sinh ngày 02/7/2016 cho anh S tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử, xét thấy từ khi chị X và anh S ly thân cho đến nay cháu H do anh S chăm sóc, nuôi dưỡng; đồng thời tại bản tự khai của cháu H thì cháu H có nguyện vọng sống với anh S sau khi chị X và anh S ly hôn với nhau. Do đó, Hội đồng xét xử giao cháu Trương Anh H, sinh ngày 02/7/2016 cho anh S tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.
Anh S không trực tiếp nuôi cháu H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom cháu H1 mà không ai được cản trở. Chị X không trực tiếp nuôi cháu H có quyền, nghĩa vụ thăm nom cháu H mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị X và anh T Duy Sỷ không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con lẫn nhau, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Nguyễn Thị X không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị X phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 3 Điều 2; Điều 19; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, kèm theo danh mục án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị X.
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị X với anh Trương Duy S.
-
Về con chung: Giao cháu Trương Anh H1, sinh ngày 15/6/2009 cho chị X tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Giao con chung là Trương Anh H, sinh ngày 02/7/2016 cho anh S tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.
Anh S không trực tiếp nuôi cháu H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom cháu H1 mà không ai được cản trở. Chị X không trực tiếp nuôi cháu H có quyền, nghĩa vụ thăm nom cháu H mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị X và anh T Duy Sỷ không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con lẫn nhau, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Nguyễn Thị X không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị X phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị X đã nộp theo biên lai thu số No 0013904 ngày 19/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình nên chị X không phải nộp thêm.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị X và anh T Duy Sỷ vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Nguyễn Văn Cảnh |
Bản án số 60/2024/HNGĐ-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 60/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Xuyến - Trương Duy Sỷ
