|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 60/2023/HS-PT Ngày: 09/11/2023 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hùng.
Các Thẩm phán: Bà Đậu Thị Quy và ông Lê Trúc Lâm.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang – Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đông – Kiểm sát viên Trung cấp.
Ngày 09 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 56/2023/TLPT-HS ngày 02 tháng 10 năm 2023 do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 20/2023/HS-ST ngày 16/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên.
- Bị cáo bị kháng nghị: La O D (tên gọi khác: Bá D1), sinh năm 1980 tại Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn P, xã P, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Nghề nghiệp: Nông. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Ba Na. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 9/12. Con ông La Mo T (chết) và bà La O Thị C (chết), có vợ tên So Thị Ư, sinh năm 1984 và 01 con, sinh năm 2003. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo La O D2: Ông Nguyễn Tâm H, Luật sư Văn phòng L, địa chỉ: A T, phường D, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
Nguyên đơn dân sự: UBND xã P, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: So Thị Ư, sinh năm 1984, nơi cư trú: Thôn P, xã P, huyện Đ, tỉnh Phú Yên (là vợ BC D2). Có mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho So Thị Ư: Ông Ngô Tấn H1, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P; địa chỉ: F L, phường G, Tp ., Phú Yên. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do có nhu cầu lấy đất để canh tác nên khoảng đầu tháng 6/2020, La O D2 nói với vợ là So Thị Ư cùng đi đến khu rừng trước đây cha mẹ D2 đã khai hoang, canh tác trồng lúa tại khu vực trước đây cha mẹ D2 đã khai hoang, canh tác trồng lúa tại khu vực “Dốc Ông T1” thuộc khoảnh 3 tiểu khu F, xã P, huyện Đ (đất rừng do UBND xã P quản lý) để phát rừng lấy đất trồng lúa và trồng keo. Khi đi vợ chồng D2 không thuê nhân công mà tự mang theo rựa và máy cưa xăng cầm tay để phát rừng. Vợ chồng D2 sử dụng rựa phát dọn dưới hình thức phát trắng, những cây có đường kính lớn thì D2 dùng máy cưa xăng cầm tay để cắt hạ. Phát dọn trong 13 ngày được diện tích rừng là 24.000m² thì nghỉ không phát dọn nữa. Đến ngày 11/8/2020, Hạt kiểm lâm huyện Đ và UBND xã P tiến hành kiểm tra và phát hiện sự việc.
Tại Kết luận giám định tư pháp số 1058/KLGĐ-CCKL ngày 03/11/2020 của Chi cục Kiểm lâm tỉnh P kết luận: Diện tích rừng bị phá 24.000m² (tức 2,4ha) thuộc khoảnh 3, tiểu khu F, xã P, huyện Đ, loại rừng: Rừng tự nhiên, phân theo trữ lượng thuộc rừng nghèo kiệt, chức năng rừng sản xuất.
Tại Kết luận định giá tài sản số 23/KL-ĐGTTHS ngày 12/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: Giá trị tài sản bị thiệt hại trong vụ phá rừng là 114.094.811₫.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 20/2023/HS-ST ngày 16/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên đã tuyên bị cáo La O D2 phạm tội “Hủy hoại rừng”. Áp dụng Điểm đ, Khoản 2, Điều 243; Điểm b, s, v Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 34 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo La O D2: Cảnh cáo.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm bồi thường dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.
Ngày 06/9/2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên có Quyết định số 04/QĐ-VKS-P7 kháng nghị bản án sơ thẩm, đề nghị sửa án sơ thẩm theo hướng tăng hình phạt đối với bị cáo La O D2.
Tại phiên tòa, bị cáo La O D2 vẫn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã tuyên.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, sửa bản án sơ thẩm, phạt bị cáo La O D2 số tiền 50.000.000₫ về tội “Hủy hoại rừng”.
Người bào chữa cho bị cáo La O D2 là Luật sư Nguyễn Tâm H trình bày: Bị cáo có nhân thân tốt, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường khắc phục toàn bộ hậu quả thiệt hại xảy ra. Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế - xã hội khó khăn nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế, do đời sống khó khăn không có đất sản xuất nên mục đích phá rừng lấy đất trồng lúa sinh sống chứ không nhằm mục đích gì khác nên đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Lời khai nhận tội của bị cáo La O Dũng cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan So Thị Ư về thời gian, địa điểm phạm tội, công cụ dùng vào việc phạm tội và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian đầu tháng 6/2020 tại khu vực rừng “Dốc Ông T1” thuộc K, tiểu khu F, xã P, huyện Đ, tỉnh Phú Yên (Đất rừng do UBND xã P quản lý), La O D2 đã có hành vi chặt, phá rừng sản xuất với diện tích 24.000m² (tức 2,4 ha) gây thiệt hại về lâm sản và môi trường trị giá 114.094.811đ. Do đó, cấp sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo La O D về tội “Hủy hoại rừng” theo quy định tại Điểm đ, Khoản 2, Điều 243 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.
[2] Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên, Hội đồng xét xử thấy:
[2.1] Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, đã vi phạm các quy định của nhà nước về quản lý bảo vệ rừng, làm ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên và môi trường rừng, gây mất cân bằng sinh thái rừng tự nhiên nên cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc. Tuy nhiên, bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm b, s, v Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên có thể áp dụng quy định tại Điều 54 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[2.2] Trong vụ án này chỉ có một mình bị cáo thực hiện hành vi phạm tội và bị cáo bị truy tố, xét xử theo quy định tại Khoản 2 Điều 243 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt từ 03 năm đến 07 năm (thuộc loại tội phạm nghiêm trọng), bị cáo La O D2 phạm tội không thuộc trường hợp người phạm tội “là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể”, để được áp dụng Khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự. Bị cáo La O D2 cũng không thuộc trường hợp “điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất”, nên chỉ có thể xử phạt bị cáo “hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật” là Khoản 1 Điều 243 Bộ luật Hình sự, quy định các loại hình phạt được áp dụng là phạt tiền, cải tạo không giam giữ và tù có thời hạn. Mặt khác, theo quy định tại Điều 34 Bộ luật Hình sự thì hình phạt cảnh cáo chỉ được áp dụng đối với trường hợp người phạm tội ít nghiêm trọng, trong khi bị cáo bị truy tố, xét xử về tội phạm nghiêm trọng.
[2.3] Từ những phân tích, đánh giá nêu trên nhận thấy: Cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt Cảnh cáo đối với bị cáo La O D2 là có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự về quyết định hình phạt. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên, tăng hình phạt đối với bị cáo La O D, áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền đối với bị cáo La O D2 cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
[3] Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điểm c, Khoản 2, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên – Sửa bản án sơ thẩm.
Tuyên bố: Bị cáo La O D2 phạm tội “Hủy hoại rừng”.
1. Về hình phạt: Áp dụng Điểm đ, Khoản 2, Điều 243; Điểm b, s, v Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54; Điều 35 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo La O Dũng 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng).
2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN
– CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Đậu Thị Quy | Nguyễn Việt Hùng |
| Lê Trúc Lâm |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Việt Hùng |
Bản án số 60/2023/HS-PT ngày 09/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về hủy hoại rừng
- Số bản án: 60/2023/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hủy hoại rừng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án HSPT LA O D - hủy hoại rừng
