TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 60/2024/HS-ST Ngày: 09-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Hòe.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Việt Hùng;
- Ông Phạm Văn Lịch.
- - Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Lại Minh Khôi - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 54/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Văn T, sinh năm 1985; nơi sinh và nơi cư trú: Xóm T, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn K, sinh năm 1960 (đã chết) và bà Trần Thị D, sinh năm 1961; chị em ruột có 04 người, bị cáo là thứ hai; bị cáo có vợ là chị Ngô Thị H, sinh năm 1982 và có 02 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 26/10/1999 bị UBND tỉnh N ra quyết định đưa vào trường G thời hạn 18 tháng; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25-3-2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H.
- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Văn K1, sinh năm 1955. Địa chỉ: Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.
(Có mặt bị cáo; vắng mặt ông K1).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 45 phút ngày 25/3/2024, Phạm Văn T đi bộ từ nhà đến khu vực cầu Y, đi theo bờ sông phía đông sông M hướng về phía xã H tìm mua ma túy để sử dụng. Trên đường đi, T mua 02 bộ bơm kim tiêm bằng nhựa loại 3ml/cc và 02 ống nước cất nhãn hiệu Novocain 3% làm dụng cụ để sử dụng ma túy. Khi đến khu vực bờ sông M thuộc tổ dân phố số B, thị trấn Y, T thấy người đàn ông khoảng trên 30 tuổi, dáng người cao gầy nhìn giống người nghiện, nên hỏi “anh có hàng không?", người đàn ông nhìn Thiệu hỏi “Hàng gì? Bao nhiêu?” thì T trả lời “Trắng, hai trăm”. Người đàn ông lấy từ trong người ra đưa cho T 01 gói bọc bằng giấy lịch màu trắng và nhận số tiền 200.000 đồng từ Thiệu. Thiệu cầm gói ma túy trên lòng bàn tay trái và đi bộ vào khu vực nghĩa trang thuộc xóm A, xã H để sử dụng. 09 giờ 10 phút cùng ngày, tổ công tác Công an xã H làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang Phạm Văn T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy; thu giữ trong lòng bàn tay trái của T 01 gói giấy bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng (niêm phong ký hiệu M). Thiệu khai nhận đó là H1 vừa mua để sử dụng cho bản thân. Ngoài ra, tổ công tác còn tạm giữ của Phạm Văn T 02 bộ bơm kim tiêm bằng nhựa loại 3ml/cc và 02 ống nước cất nhãn hiệu Novocain 3%. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng và bàn giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H điều tra theo thẩm quyền.
Tại bản kết luận giám định số 633/KL - KTHS ngày 27/3/2024, Phòng K2 Công an tỉnh N kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 gói giấy lịch nhỏ màu trắng, trong phong bì niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy; loại ma túy: Heroine; tổng khối lượng mẫu M: 0,136gam.
Cáo trạng số 57/CT-VKS-HH ngày 12/6/2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
- - Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu.
- - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Phạm Văn T và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn T từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; đề nghị xử lý vật chứng đã thu giữ, chưa xử lý trong quá trình điều tra.
Tranh luận tại phiên tòa: Bị cáo không tranh luận.
Nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Về hành vi của bị cáo: Tại phiên toà, bị cáo khai nhận về hành vi đúng như cáo trạng truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, kết luận giám định cùng các tài liệu khác đã được lưu trong hồ sơ và thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ 10 phút ngày 25-3-2024, tại khu vực xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định, tổ công tác Công an xã H phát hiện bắt quả tang Phạm Văn T đang có hành vi cất giấu trái phép 01 gói Heroine khối lượng 0.136 gam để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- [3] Xét hành vi bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó không chỉ trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước mà còn ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người có thể chất, tinh thần bình thường, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn tàng trữ để sử dụng. Do đó, cần phải xử lý nghiêm hành vi của bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.
- [4] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy: Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Trong vụ án này, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Ngày 26/10/1999, bị cáo đã bị đưa vào trường giáo dưỡng thời hạn 18 tháng theo quyết định số 1609 của Ủy ban nhân dân tỉnh N. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn; thái độ ăn năn, hối lỗi nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử có thể xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp.
- [5] Về hình phạt chính: Trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đối chiếu với các quy định pháp luật hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cần tiếp tục cách ly bị cáo khỏi cộng đồng xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên toà là phù hợp.
- [6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- [7] Về xử lý vật chứng:
- Số Heroine bị cáo đã mua để mục đích sử dụng còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 02 bộ bơm kim tiêm bằng nhựa loại 3ml/cc, 02 ống nước cất nhãn hiệu Novocain 3% bị cáo T mua để sử dụng ma tuý không còn giá trị sử dụng nên cần tịch tiêu hủy.
- [8] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- 1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt Phạm Văn T 18 (mười tám) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 25 tháng 3 năm 2024.
- 2. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu huỷ: Số H trong phong bì thư niêm phong hoàn trả mẫu vật sau giám định số 633/KL-KTHS ngày 27/3/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh N và 02 bộ bơm kim tiêm bằng nhựa loại 3ml/cc, 02 ống nước cất nhãn hiệu Novocain 3%.
Vật chứng nêu trên được mô tả như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/7/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu.
- 3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Phạm Văn T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- 4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Ngô Thị Hòe |
Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 09/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 60/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. điểm c khoản 1 điều 249
