TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 60/2024/HS-ST Ngày: 09 - 5 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Bình An.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trương Thị Kim Cương – Nguyên Phó trưởng Phòng giáo dục huyện Đức Hòa.
Bà Trần Thị Đổi – Nguyên Phó trưởng Phòng tài chính huyện Đức Hòa.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huỳnh Như - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Võ Quang Mãi - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 58/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:
1.Phan Thành P, sinh ngày 02/01/2003, tại tỉnh Long An; Nơi thường trú: ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Văn T sinh năm 1985(chết) và bà Đặng Thị T1 sinh năm 1985; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, Tiền sự: Không.
Nhân thân:
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 123/2021/HS-ST ngày 22/10/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xử phạt Phan Thành P 06 tháng tù, về tội Hủy hoại tài sản. P chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/6/2022, P phạm tội khi dưới 18 tuổi, đương nhiên được xóa án tích.
Phan Thành P đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 31/01/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Long An, cho đến nay, bị cáo có mặt.
2. Dương Văn L, sinh ngày 20/9/2006, tại tỉnh Cà Mau; Nơi thường trú: ấp C, xã N, huyện P, tỉnh Cà Mau: Chổ ở hiện nay: ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Văn T2 sinh năm 1967 và bà Đoàn Thị V sinh năm 1968; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, Tiền sự: Không.
Dương Văn L đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 31/01/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Long An, cho đến nay, bị cáo có mặt.
Người giám hộ cho bị cáo Dương Văn L; ông Dương Văn T2 sinh năm 1967.
Địa chỉ: Ấp C, xã N, huyện P, tỉnh Cà Mau.
Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Dương Văn L: Ông Nguyễn Phát T3 là trợ giúp viên pháp lý của Trung Tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh L.
Người chứng kiến:
Ông Đặng Quốc T4, sinh năm 1997, (vắng mặt), ông Nguyễn Văn D, sinh năm 2004, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 31 tháng 01 năm 2024, Phan Thành P thuê xe mô tô đến khu vực chợ B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh tìm mua chất ma túy về sử dụng. Tại đây, P mua của người đàn ông tên C, không rõ nhân thân, lai lịch 02 gói nylon hàn kín chứa chất ma túy dạng đá với số tiền 400.000 đồng, P cất giấu 02 gói nylon chứa chất ma túy vừa mua vào trong túi quần đang mặc trên người rồi thuê xe mô tô đến nhà trọ B1 thuộc ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An, do Tạ Văn K làm chủ, thuê phòng số 302 để làm nơi sử dụng chất ma túy. Tại phòng số 302, P lấy 01 gói nylon chứa chất ma túy vừa mua ra sử dụng hết, còn 01 gói nylon chứa chất ma túy còn lại P bỏ vào trong 01 vỏ hộp kẹo singgum rồi cất giấu vào túi quần đang mặc trên người. Đến khoảng 14 giờ 40 phút cùng ngày, Dương Văn L, sinh ngày 20/9/2006 (lúc này L có độ tuổi 17 tuổi 04 tháng) đến phòng số 302 nhà T gặp P để tìm chất ma túy sử dụng nhưng không có nên L ở lại đây cùng Phước. Lúc này, H, không rõ nhân thân, lai lịch gọi điện thoại cho P thông qua ứng dụng Z, nhờ P mua giúp chất ma túy với số tiền 300.000 đồng, nhưng do lúc này P không còn tiền trả tiền phòng trọ, nên P nảy sinh ý định bán gói nylon chứa chất ma túy vừa mua cho H, P hẹn H đến trước nhà trọ Kim S sẽ có người đem chất ma túy đến bán, H đồng ý. Sau đó, P đưa gói nylon chứa chất ma túy cho L, kêu L đi ra cửa nhà trọ Kim S bán cho H với số tiền 300.000 đồng, L đồng ý. L cầm gói nylon chứa chất ma túy trên tay, đi ra cửa nhà trọ Kim S nhìn thấy H đang ngồi đợi trên xe mô tô, không rõ biển
số nên tiến đến vị trí của H. Lúc này khoảng 15 giờ cùng ngày, khi L đang cầm gói nylon chứa chất ma túy trên tay phải chuẩn bị đưa cho H, H đang cầm 300.000 đồng chuẩn bị đưa cho L thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Long An phát hiện bắt quả tang, H vứt số tiền 300.000 đồng xuống đất rồi điều khiển xe mô tô tẩu thoát.
Đến khoảng 22 giờ ngày 31/01/2024, Phan Thành P đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Long An đầu thú hành vi phạm tội.
Vật chứng tạm giữ gồm:
01 gói nylon hàn kín, kích thước 3,1 x 0,8cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là chất ma túy dạng đá; số tiền 300.000 đồng.
01 hộp nhựa kẹo singgum, màu trắng xanh, hình tròn, 01 đầu có đường kính 5,5cm, 01 đầu có đường kính 3,5cm.
Tại Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 31/01/2024 của Công an xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An đối với Phan Thành P và Dương Văn L kết luận dương tích với chất ma túy.
Tại Kết luận giám định số 89/KL-KTHS ngày 07/02/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận:
“Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) gói nylon hàn kín được đóng gói niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,2206 gam, loại: Methamphetamine.
Kèm theo kết luận giám định: Không có.
Bản ảnh giám định được lưu tại Phòng K1, Công an tỉnh L.
H1 lại đối tượng gửi giám định: Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,1465 gam và vỏ bao đựng mẫu được đóng gói niêm phong số 89./.”
Qua điều tra xác định, từ đầu tháng 01 năm 2024 đến trước khi bị bắt quả tang Phan Thanh P1 đã nhờ Dương Văn L bán trái phép chất ma túy trót lọt 03 lần, cho những người không rõ nhân thân, lai lịch tại trước nhà trọ B1 thuộc ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An, thu lợi bất chính số tiền 400.000 đồng, P1 dùng số tiền này để trả tiền phòng trọ cho P1 và L hết.
Tại bản cáo trạng số: 59/CT-VKS-ĐH ngày 11 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An truy tố các bị cáo Phan Thành P và Dương Văn L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo Phan Thành P và Dương Văn L hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm xã hội của hành vi vi phạm pháp luật mà các bị cáo Phan Thành P và
Dương Văn L gây ra; đồng thời căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm o khoản 1 Điều 52, điểm s, điểm r khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Điều 50 Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Phan Thành P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Phan Thành P mức hình phạt từ 08 năm đến 09 năm tù.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s, điểm r khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58, Điều 50, Điều 91, 98, 101 Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Dương Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Dương Văn L mức hình phạt từ 07 năm đến 08 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Đề nghị tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật còn lại sau giám định là chất ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1465 gam và vỏ bao đựng mẫu được đóng gói niêm phong số 89; 01 hộp nhựa kẹo singgum, màu trắng xanh, hình tròn, 01 đầu có đường kính 5,5cm, 01 đầu có đường kính 3,5cm.
Đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 300.000 đồng.
Về biện pháp tư pháp: Bị cáo Phan Thành P khai thu lợi bất chính từ việc bán ma túy là 400.000đồng, nên đề nghị buộc bị cáo P nộp lại sung Ngân sách nhà nước.
Hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Đối với Tạ Văn K, là chủ hộ kinh doanh nhà trọ bảng hiệu Kim S, do K không biết Phan Thành P thuê phòng nghỉ để sử dụng trái phép chất ma túy và cũng không biết Phan Thành P và Dương Văn L mua bán trái phép chất ma túy trước nhà trọ Kim S, nên hành vi của ông K không cấu thành các tội phạm có liên quan.
Đối với người có tên C, có hành vi bán trái phép chất ma túy cho P và người có tên H, có hành vi mua chất ma túy từ Lực, do không xác định được nhân thân, lai lịch của những người này, chỉ có lời khai duy nhất của P và L, nên không đủ căn cứ xử lý.
Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Dương Văn L cho rằng; Qua bản cáo trạng số 59/CT-VKS - ĐH ngày 11/4/2024 truy tố bị cáo Dương Văn L và đồng phạm về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là phù hợp không oan.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Dương Văn L phạm tội lần đầu, khi phạm tội bị cáo dưới 18 tuổi, tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s, r khoản 1 Điều 51, Đều 91, Điều 98 và Điều 101 Bộ luật hình sự giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và những người chứng kiến nhưng những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2]. Lời khai nhận tội của các bị cáo Phan Thành P và Dương Văn L trước Tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang vào lúc 15 giờ 00 phút ngày 31 tháng 01 năm 2024, phù hợp với lời khai của người chứng kiến cùng với bản kết luận giám định số 89/KL- KTHS ngày 07 tháng 02 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L, phù hợp với nội dung bản cáo trạng và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định, Khoảng 15 giờ ngày 31 tháng 01 năm 2024, tại trước nhà trọ B1 thuộc ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An, bị cáo Dương Văn L có hành vi giúp cho bị cáo Phan Thành P bán trái phép 01 gói nylon chứa chất ma túy có khối lượng 0,2206 gam, loại Methamphetamine cho người có tên H, không xác định nhân thân, lai lịch với số tiền 300.000 đồng, thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Long An bắt quả tang. Đến 22 giờ cùng ngày, bị cáo Phan Thành P đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Long An đầu thú hành vi phạm tội.
Ngoài ra, từ đầu tháng 01 năm 2024 đến trước ngày 31/01/2024 tại trước nhà trọ B1 thuộc ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An, bị cáo Phan Thành P đã nhờ bị cáo Dương Văn L bán trái phép chất ma túy trót lọt 03 lần, thu lợi bất chính số tiền 400.000 đồng tiêu xài cá nhân hết.
Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận các bị cáo Phan Thành P và Dương Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố các bị cáo Phan Thành P và Dương Văn L với tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3]. Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội. Hành vi này đã xâm hại trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây thiệt hại lớn về kinh tế, gây tổn hại sức khỏe con người, làm suy thoái nòi giống, gây mất trật tự xã hội.
Khi thực hiện hành vi, các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hậu quả nghiêm trọng đối với xã hội của ma túy. Các bị cáo biết rõ ma túy là một trong những nguyên nhân của nhiều tội phạm khác, nhiều căn bệnh hiểm nghèo, bị nghiêm cấm vận chuyển, mua bán, tàng trữ dưới bất kỳ hình thức nào nhưng để có tiền tiêu xài cá nhân, các bị cáo vẫn bất chấp pháp luật thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của các bị cáo cần được xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự, xét thấy cần cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Trong vụ án này, bị cáo Phan Thành P và Dương Văn L phạm tội không có sự câu kết chặt chẽ với nhau, bị cáo P với vai trò là người chủ mưu, cầm đầu, xúi giục bị cáo L phạm tội khi bị cáo L chỉ mới 17 tuổi 04 tháng, bị cáo L với vai trò là người thực hành.
[4]. Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo Phan Thành P phạm tội có tình tiết tăng nặng là xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội theo điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ; Bị cáo P không có tiền án, tiền sự. Trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Phước khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo tự thú về hành vi phạm tội trước (bị cáo khai đã nhờ bị cáo L bán trái phép chất ma túy 03 lần). Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, điểm r khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên khi áp dụng hình phạt cho bị cáo có xem xét giảm nhẹ một phần.
[5]. Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo Dương Văn L phạm tội không có tình tiết tăng nặng theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ; Bị cáo L không có tiền án, tiền sự. Bị cáo L phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên cần áp dụng thêm các quy định tại Điều 91, 98, 101 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt, ngoài ra trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo L khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo tự thú về hành vi phạm tội trước (bị cáo tự thú hành vi phạm tội trước). Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên khi áp dụng hình phạt cho bị cáo có xem xét giảm nhẹ một phần.
Từ phân tích [4] và [5], xét theo lời đề nghị của Kiểm sát viên áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo Phan Thành P và Dương Văn L là phù hợp, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Xét quan điểm người bào chữa chỉ định cho bị cáo Dương Văn L là phù hợp, nên ghi nhận.
[6]. Về xử lý tang vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Mẫu vật còn lại sau giám định là chất ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1465 gam và vỏ bao đựng mẫu được đóng gói niêm phong số 89;
01 hộp nhựa kẹo singgum, màu trắng xanh, hình tròn, 01 đầu có đường kính 5,5cm, 01 đầu có đường kính 3,5cm. Đây là tang vật của vụ án, nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 300.000 đồng, đây là số tiền dùng vào việc mua chất ma túy, nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước
[7]. Về biện pháp tư pháp: Bị cáo Phan Thành P khai thu lợi bất chính từ việc bán ma túy là 400.000đồng, nên buộc bị cáo P nộp lại sung vào Ngân sách nhà nước là phù hợp.
Hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
[8]. Đối với Tạ Văn K, là chủ hộ kinh doanh nhà trọ bảng hiệu Kim S, do K không biết Phan Thành P thuê phòng nghỉ để sử dụng trái phép chất ma túy và cũng không biết Phan Thành P và Dương Văn L mua bán trái phép chất ma túy trước nhà trọ Kim S, nên hành vi của ông K không cấu thành các tội phạm có liên quan.
Đối với người có tên C, có hành vi bán trái phép chất ma túy cho P và người có tên H, có hành vi mua chất ma túy từ Lực, do không xác định được nhân thân, lai lịch của những người này, chỉ có lời khai duy nhất của P và L, nên không đủ căn cứ xử lý.
[9]. Về án phí: Các bị cáo Phan Thành P và Dương Văn L1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Phan Thành P và Dương Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251, điểm o khoản 1 Điều 52, điểm s, điểm r khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 17 Điều 38, Điều 58, Điều 50 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Phan Thành P 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/01/2024.
Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Phan Thành P 45 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 09/5/2024) để đảm bảo cho việc thi hành án.
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251 điểm s, điểm r khoản 1 Điều 51, Điều 17 Điều 38, Điều 58, Điều 50, Điều 91, Điều 98, Điều 101 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Dương Văn L 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/01/2024.
Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Dương Văn L 45 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 09/5/2024) để đảm bảo cho việc thi hành án.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật còn lại sau giám định là chất ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1465 gam và vỏ bao đựng mẫu được đóng gói niêm phong số 89; 01 hộp nhựa kẹo singgum, màu trắng xanh, hình tròn, 01 đầu có đường kính 5,5cm, 01 đầu có đường kính 3,5cm.
Vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 85-12/04/2024 ngày 12/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0002820 ngày 12/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Về biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo Phan Thành P nộp số tiền 400.000 đồng sung vào Ngân sách nhà nước là phù hợp.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Điều 331 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án buộc các bị cáo Phan Thành P và Dương Văn L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, sung vào ngân sách Nhà nước.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo. Riêng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án xin xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Bình An |
Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 60/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Thành P và ĐP “Mua bán trái phép chất ma túy”
