|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH L |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 60/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 09-5-2024
“V/v tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH L
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị G
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phạm Thị Tuyết N
- Ông Đặng Văn V
- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Chánh N, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh L.
Trong ngày 09 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 623/2023/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: bà Phạm Thị Ngọc L, sinh năm 1986; Địa chỉ: 6 khu phố H, thị trấn C, huyện C, tỉnh L. (có mặt)
2. Bị đơn: ông Lâm Thanh H, sinh năm 1988; Địa chỉ: 6 khu phố H, thị trấn C, huyện C, tỉnh L. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện nguyên đơn bà Phạm Thị Ngọc L và lời trình bày trong quá trình giải quyết, nội dung vụ án như sau: Sau khi tìm hiểu và quen biết, ngày 18/9/2008 bà và ông H có thực hiện đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 95, quyển số 01/2008 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh L cấp.
Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại ấp K, xã T (nay là thị trấn C), huyện C, tỉnh L. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2013 thì cả hai bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do cả hai bất đồng về quan điểm trong việc nuôi dạy con cái, tài chính gia đình, ông H còn thường hay đánh đập bà. Từ tháng 10/2023 đến nay bà với ông H đã ly thân. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, bà yêu cầu ly hôn với ông H.
Bà và ông H có 02 con chung tên L1 Hải Đăng Khoa, sinh ngày 16/11/2013 và Lâm Văn K, sinh ngày 06/9/2009. Sau khi bà và ông H ly thân thì bà nuôi dưỡng con chung tên K1 còn ông H nuôi dưỡng con chung tên K. Trong thời gian cháu K sống với ông H thì ông H thường xuyên nhậu nhẹt, đánh và đuổi cháu K ra khỏi nhà nên bà yêu cầu được chăm sóc nuôi dưỡng cả cháu K và cháu K1. Không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.
Tài sản chung, nợ chung: bà và ông H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Lâm Thanh H trình bày: Tại Biên bản hòa giải ngày 06/3/2024 ông thống nhất với lời trình bày của bà L về thời gian chung sống, thời gian kết hôn, về con chung, tài sản chung và nợ chung. Về nguyên nhân mâu thuẫn bà L trình bày thì ông không có ý kiến. Khi bà L yêu cầu ly hôn với ông thì ông không đồng ý ly hôn vì ông còn thương vợ con. Trong trường hợp ly hôn bà L yêu cầu giao con chung tên L1 Hải Đăng K1 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, giao cho ông trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lâm Văn K và không cấp dưỡng nuôi con chung thì ông đồng ý.
Tại phiên hòa giải ngày 26/3/2024 ông đã được Tòa án tống đạt giấy triệu tập tham gia phiên hòa giải lần hai nhưng ông vắng mặt không lý do nên không ghi nhận được ý kiến.
Tòa án đã tiến hành hòa giải, nhưng các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án, nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: bà Phạm Thị Ngọc L khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Lâm Thanh H, hiện ông H đang cư trú tại khu phố H, thị trấn C, huyện C, tỉnh L nên Tòa án nhân dân huyện C thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Ông Lâm Thanh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt ông H.
[2] Về hôn nhân: bà Phạm Thị Ngọc L kết hôn với ông Lâm Thanh H, thực hiện đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh L cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 95, quyển số 01/2008 ngày 18/9/2008 nên xác định hôn nhân giữa bà L và ông H là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Bà L cho rằng cả hai bất đồng về quan điểm trong việc nuôi dạy con cái, tài chính gia đình, ông H còn thường hay đánh đập bà.
Sau khi thụ lý vụ án Tòa án thông báo mời bà L và ông H đến hòa giải. Thấy rằng, ông H không tìm được phương án hiệu quả nào để giải quyết mâu thuẫn vợ chồng, bà L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện cương quyết ly hôn với ông H. Qua đó, có đủ cơ sở xác định tình cảm vợ chồng giữa bà L và ông H không còn, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử giải quyết cho bà L được ly hôn với ông H.
[3] Về con chung: bà L và ông H xác định vợ chồng có 02 con chung là L1 Hải Đăng Khoa, sinh ngày 16/11/2013 và Lâm Văn K, sinh ngày 06/9/2009. Bà L yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu K1 và cháu K.
Xét thấy cháu K1 đang sống với bà L ổn định, còn cháu K trình bày trong bản tự khai và tại phiên tòa thì cháu K thường xuyên bị ông H đánh và đuổi ra khỏi nhà nên mong muốn của cháu K là muốn được ở cùng với mẹ là bà L. Do đó, theo nguyện vọng của cả cháu K và K1 đồng thời để đảm bảo cuộc sống ổn định cho cháu K1 nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao 02 con chung tên L1 Hải Đăng Khoa, sinh ngày 16/11/2013 và Lâm Văn K, sinh ngày 06/9/2009 cho bà L nuôi.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: bà L và ông H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[6] Về án phí: bà L là người khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông H nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 147, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 9, Điều 56, 81, 82, 83, 84, 85 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Ngọc L về việc yêu cầu ly hôn với ông Lâm Thanh H.
[1] Về hôn nhân: bà Phạm Thị Ngọc L được ly hôn với ông Lâm Thanh H.
[2] Về con chung: bà Phạm Thị Ngọc L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc 02 con chung là L1 Hải Đăng Khoa, sinh ngày 16/11/2013 và Lâm Văn K, sinh ngày 06/9/2009.
Sau khi ly hôn, cha mẹ có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
[3] Về án phí: bà Phạm Thị Ngọc L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà L đã nộp theo Biên lai thu số 0010797 ngày 28/11/2023 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện C, tỉnh L chuyển sang án phí sung công quỹ nhà nước.
[4] Bản án sơ thẩm, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Giúp |
Bản án số 60/2024/HNGĐ-ST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH L về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 60/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH L
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Ngọc L về việc yêu cầu ly hôn với ông Lâm Thanh H
