Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NINH KIỀU

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2024/HNST

Ngày: 07/8/2024

V/v "Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Trinh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Dung

2. Ông Phan Công Ny

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều.

Trong ngày 07 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 143/2024/TLST-HN ngày 04 tháng 4 năm 2024. Về việc: "Tranh chấp ly hôn". Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 487/2024/QĐST-HN ngày 15 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ N sinh năm 1988 (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.

Bị đơn: Ông Vũ Gia T sinh năm 1979 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số C, M, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ N trình bày:

Vào năm 2018, qua tìm hiểu bà và ông Vũ Gia T tự nguyện đi đến hôn nhân vào tháng 10 năm 2021 và đăng ký kết hôn ngày 21 tháng 11 năm 2022 tại Ủy ban nhân dân phường, huyện T, thành phố Cần Thơ. Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, từ tháng 12 năm 2022 đến nay giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, đời sống chung không hạnh phúc, thường xuyên tranh cãi. Tình cảm giữa vợ chồng không thể hàn gắn. Bà và ông T đã sống ly thân từ tháng 10 năm 2022 đến nay. Nay bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Xin ly hôn với ông Vũ Gia T.
  • - Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, ông bà có 01 con chung Vũ Nguyễn Ngọc Khả A (nữ) sinh ngày 29/9/2022. Khi ly hôn bà N yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông Vũ Gia T cấp dưỡng nuôi con.
  • - Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết.
  • - Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Vũ Gia T đã được Tòa án cấp tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, vắng mặt không lý do.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

  • - Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với bị đơn căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 123 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều.
  • - Về sự vắng mặt các đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay bị đơn ông Vũ Gia T đã được Tòa án cấp tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, ông Vũ Gia T vắng mặt, không có lý do. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Xét về nội dung vụ án:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mỹ N và ông Vũ Gia T xây dựng hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và được UBND xã, huyện T, thành phố Cần Thơ cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 21/11/2022. Do vậy hôn nhân của ông bà là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật bảo vệ và điều chỉnh khi có yêu cầu. Quá trình chung sống giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, đời sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn được cho nên giữa bà N và ông T không có sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Bà N và ông T ly thân từ tháng 10 năm 2022 đến nay. Bà N nhận thấy tình cảm giữa bà và ông T không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án tiến hành hoà giải ông T không có mặt theo thông báo của Tòa án nên không ghi nhận được ý kiến của ông T đối với quan hệ hôn nhân giữa ông và bà N. Hội đồng xét xử xét thấy giữa bà N và ông T mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên thống nhất cho bà N ly hôn với ông T theo quy định Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
  • - Về con chung và vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung: Ông bà có 01 con chung Vũ Nguyễn Ngọc Khả A (nữ) sinh ngày 29/9/2022. Khi ly hôn bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy bà N là người trực tiếp nuôi con từ khi sinh ra đến nay. Bà N nuôi dưỡng cháu Khả A bảo đảm sự phát triển bình thường. Hơn nữa cháu Khả A vẫn còn nhỏ nên cần phải có sự chăm sóc của mẹ để bảo đảm những quyền lợi thiết thực nhất cho con. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà N được trực tiếp nuôi con chung trên cơ sở xem xét quyền lợi về mọi mặt của con, để con phát triển cả về thể chất lẫn tinh thần được quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Căn cứ đơn khởi kiện bà N không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung, đây là sự tự nguyện của đương sự nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Con chưa thành niên các bên đều có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Nên dành quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho ông T không ai được quyền ngăn cản. Tuy nhiên, khi người trực tiếp nuôi con không đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung thì người không trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con theo quy định của pháp luật.

  • - Về tài sản chung: Bà N trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do xét xử vắng mặt ông T và bà N không yêu cầu giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
  • - Về nợ chung: Bà N trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do xét xử vắng mặt ông T và bà N không yêu cầu giải quyết về nợ chung nên nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.

Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.

[3] Về án phí hôn nhân sơ thẩm:

Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Đ a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí tòa án.

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), chuyển số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại phiếu thu số 0000899 ngày 01/02/2024 do Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều đã thu sang thành án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

  • - Khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 207, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
  • - Điều 51, Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị Mỹ N được ly hôn với ông Vũ Gia T.
  2. Về con chung: Giao cháu Vũ Nguyễn Ngọc Khả A (nữ) sinh ngày 29/9/2022 cho bà Nguyễn Thị Mỹ N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Ông Vũ Gia T không cấp dưỡng nuôi con chung.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho ông Vũ Gia T không ai được quyền ngăn cản.

  1. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
  2. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), chuyển số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại phiếu thu số 0000899 ngày 01/02/2024 do Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều đã thu sang thành án phí.

  1. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND thành phố Cần Thơ;
  • - VKSND quận Ninh Kiều;
  • - Chi cục THADS quận Ninh Kiều;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mỹ Trinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2024/HNST ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 60/2024/HNST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger