|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ C TỈNH K Bản án số: 60/2024/DS-ST Ngày: 06/9/2024 V/v: "Tranh chấp thực hiện chuyển giao nghĩa vụ" |
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ C - TỈNH K
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phan Thị Hồng
- Bà Nguyễn Thị Minh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh K.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố C: Bà Ngô Thị Nhật - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 96/2024/TLST-DS ngày 28 tháng 5 năm 2024 về "Tranh chấp thực hiện chuyển giao nghĩa vụ" theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2024/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 8 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 49/2024/QĐST-DS ngày 27 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Trần Thiên T, sinh năm: 1980.
Nơi cư trú: 175 Chung cư C, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
Ông Trần Thiên T ủy quyền cho bà Lê Nhất Yến P, sinh năm: 1993
Địa chỉ: A N, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. (Theo giấy ủy quyền được công chứng số 6777, quyển số 02/2024 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 05/7/2024 tại Văn phòng công chứng Trung Tâm thành phố N, tỉnh Khánh Hòa) (Bà P có mặt tại phiên tòa).
* Bị đơn: Ông Lê Văn H, sinh năm: 1965.
Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường B, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt và xin xét xử vắng mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Đức H1, sinh năm 1996;
Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường B, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 25 tháng 4 năm 2024, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ông Trần Thiên T là giáo viên có quen biết với ông Lê Đức H1 cũng là giáo viên. Ông H1 đã gặp và mượn ông T số tiền: 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng) để đủ tiền đặt cọc lô đất, thời hạn vay 07 ngày sẽ trả lại tiền vay cho ông T.
Ông T đã chuyển tiền vào tài khoản của ông Lê Đức H1 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng) vào ngày 15/4/2022. Đồng thời, ông H1 soạn “giấy vay tiền” ghi ngày 15/5/2022 (do đánh máy nhầm thực tế là ngày 15/4 không phải tháng 5) với thời hạn 07 ngày từ ngày 15/4/2022 đến ngày 22/4/2022 sẽ hoàn trả lại cho ông T. Tuy nhiên, đến hạn trả tiền H1 luôn né tránh và bỏ việc dạy ở trường, ông T tìm mọi cách để yêu cầu trả nợ nhưng ông H1 không trả tiền cho ông T.
Ông T có tuyên bố sẽ tố cáo H1 ra trước pháp luật thì ông Lê Văn H là ba ruột của Lê Đức H1 có gặp và xin được tự nguyện thực hiện nghĩa vụ trả nợ 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng) thay con trai và được ông T chấp nhận đồng ý. Theo đó, ông H đã tự nguyện viết “giấy cam đoan” ngày 24/4/2022 với nội dung đồng ý trả 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng) qua 2 lần cụ thể: “ngày 04/5/2022 trả 30 triệu đồng; ngày 01/9/2022 trả tiếp 100 triệu đồng”. Thế nhưng đến ngày trả tiền thì ông H luôn né tránh không gặp ông T và cố trì hoãn kéo dài thời gian trả nợ.
Việc ông Lê Văn H đã tự nguyện đồng ý đứng ra thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho con trai Lê Đức H1 được ông T đồng ý chấp nhận. Ông T đã nhiều lần yêu cầu ông H trả tiền nhưng ông H vẫn không chịu trả nợ theo thời hạn đã xác nhận là xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của ông T.
Do đó, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh xét xử buộc ông Lê Văn H phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho ông T một lần tổng số tiền là: 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng), không yêu cầu trả tiền lãi.
* Tại bản tự khai ngày 27 tháng 8 năm 2024 bị đơn ông Lê Văn H trình bày:
Ông là bố của Lê Đức H1. Ngày 24/4/2022 ông có viết giấy cam đoan cho ông Trần Thiên T sẽ trả thay H1 số tiền 130.000.000 đồng. Nay ông đồng ý trả số nợ trên cho ông T, nhưng vì hoàn cảnh khó khăn nên ông xin trả dần 01 tháng 5.000.000 đồng cho đến khi hết nợ.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Đức H1 vắng mặt và trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không thể hiện ý kiến.
Tại phiên tòa: Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu ông Lê Văn H phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho ông Trần Thiên T một lần tổng số tiền là: 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng), không yêu cầu trả tiền lãi.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của người tiến hành tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đại diện hợp pháp của nguyên đơn chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về án phí: Bị đơn phải nộp án phí dân sự theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn khởi kiện đối với bị đơn có nơi cư trú tại thành phố C, tỉnh Khánh Hòa; căn cứ theo khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh.
[1.2] Bị đơn đề nghị xét xử vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án căn cứ theo quy định tại Điều 227 và 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[1.3] Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả khoản nợ nhận chuyển giao từ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nên theo quy định tại Điều 370 Bộ luật dân sự Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp thực hiện chuyển giao nghĩa vụ”.
[2] Về nội dung vụ án: Theo tài liệu do nguyên đơn cung cấp thể hiện:
Ngày 15 tháng 4 năm 2022 nguyên đơn cho ông Lê Đức H1 (là con trai của bị đơn) vay số tiền là 130.000.000 đồng, hẹn sau 07 ngày sẽ trả. Hai bên có lập giấy vay tiền và có chữ ký xác nhận. Nguyên đơn xác định ngày vay tiền là 15/4/2022 tuy nhiên trong giấy vay tiền ghi nhầm thành ngày 15/5/2024.
Đến hạn nguyên đơn đòi nợ ông Lê Đức H1 không trả nợ nên ngày 24 tháng 4 năm 2022 bị đơn ông Lê Văn H (cha của ông H1) đã viết giấy cam đoan sẽ thay ông H1 trả nợ cụ thể: ngày 04/5/2022 trả 30.000.000 đồng; ngày 01/9/2022 trả tiếp 100.000.000 đồng cho ông T. Tuy nhiên đến hạn ông H không thực hiện cam kết trả nợ cho ông T.
[3] Hội đồng xét xử căn cứ vào “Giấy vay tiền” và “giấy cam đoan” có chữ ký của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để xác định việc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vay tiền của nguyên đơn, bị đơn cam kết trả nợ thay cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là những tình tiết có thật, không cần phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với giấy cam đoan ngày 24/4/2022, bị đơn ông Lê Văn H cam kết nhận trả nợ thay cho ông Lê Đức H1. Xét thấy đây là chuyển giao nghĩa vụ cho người thế quyền, ông H hoàn toàn tự nguyện khi cam kết nhận trả nợ thay cho ông H1, việc chuyển giao nghĩa vụ dân sự này có hiệu lực pháp lý và không thuộc những trường hợp pháp luật không cho phép chuyển giao nghĩa vụ. Ngoài ra tại bản tự khai ngày 27 tháng 8 năm 2024, ông H cũng xác nhận tự nguyện viết giấy cam kết ngày 24/4/2022 để nhận trả nợ thay cho con trai (ông H1) và xin trả dần một tháng 5.000.000 đồng cho đến khi hết nợ. Vì vậy hợp đồng vay tiền theo “Giấy vay tiền” và “giấy cam đoan” được các bên tự nguyện giao kết nên phát sinh hiệu lực. Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận.
Ông H đồng ý trả nợ thay cho con trai (ông H1) và xin trả dần một tháng 5.000.000 đồng cho đến khi hết nợ. Tuy nhiên nguyên đơn không đồng ý. Xét việc vay mượn đã lâu ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn nên yêu cầu của nguyên đơn buộc ông Lê Văn H trả toàn bộ khoản nợ gốc là hoàn toàn phù hợp quy định tại các Điều 370, 463 và 466 của Bộ luật Dân sự 2015 nên chấp nhận.
Đối với số tiền lãi nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận là 130.000.000 x 5% = 6.500.000 đồng. Hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Các Điều 370, 463, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;
- - Các Điều 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTUQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án).
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc ông Lê Văn H phải trả cho ông Trần Thiên T số tiền là: 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng), không yêu cầu trả tiền lãi.
2. Án phí:
- Bị đơn ông Lê Văn H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 6.500.000 đồng (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng).
- H2 lại cho nguyên đơn ông Trần Thiên T số tiền tạm ứng án phí là 3.250.000 đồng (Ba triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004698 ngày 17/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.
Quy định:
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án nếu người phải thi hành án không thi hành khoản tiền phải trả thì hàng tháng phải chịu thêm tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thờihạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thúy Nga |
5
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
6
7
Bản án số 60/2024/DS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ C - TỈNH K về tranh chấp thực hiện chuyển giao nghĩa vụ
- Số bản án: 60/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thực hiện chuyển giao nghĩa vụ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ C - TỈNH K
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thiên T-Lê Văn H
