TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 60/2023/HS-ST Ngày: 05/12/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đặng Văn Việt;
2. Bà Nguyễn Thị Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Lợi là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Lê Đắc Huyền - Kiểm sát viên.
Vào ngày 05 tháng 12 năm 2023, tại Trụ sở Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đồng Tháp, Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh tiến hành xét xử lưu động sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 60/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:
1/ Họ và tên: Bùi Bôn B, sinh năm 1990; Tên gọi khác: Không; N sinh: Đồng Tháp; Đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Hoàn cảnh gia đình: Con ông: Bùi Văn N1 (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị Ú, sinh năm: 1966; Gia đình có 02 chị, em. Bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ, con: Chưa; Tiền án: Không;Tiền sự: 02: Ngày 17/3/2021 bị Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở điều trị nghiện bắt buộc thời hạn 20 tháng. Chấp hành xong ngày 27/6/2022 tại Cơ sở điều trị nghiện tỉnh An Giang; Ngày 07/9/2022 bị Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở điều trị nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng. Đang chấp hành tại Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đồng Tháp. Tạm giữ, tạm giam: Không. Hiện bị cáo đang tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
2/ Họ và tên: Huỳnh Thanh G, sinh năm: 1990; Nơi sinh: Đồng Tháp; Đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Hoàn cảnh gia đình: Con ông: Huỳnh Hoàng K (đã chết); Con bà: Huỳnh Thanh M (đã chết); Gia đình có 03 anh, chị em. Bị cáo là lớn nhất trong gia đình; Vợ: Nguyễn Thị Kim N2; Con: Có 02 con. Lớn nhất sinh 2013, nhỏ nhất sinh năm 2015; Tiền án: Không. Tiền sự: 02: Ngày 31/12/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở điều trị nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng. Chấp hành xong ngày 11/11/2021 tại Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đồng Tháp; Ngày 14/9/2022 bị Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở điều trị nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng. Đang chấp hành tại Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đồng Tháp. Tạm giữ, tạm giam: Không. Hiện bị cáo đang tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
3/ Họ và tên: Hà Văn M1 T, sinh năm: 1990; Tên gọi khác: N3; Nơi sinh: Đồng Tháp; Đăng ký hộ khẩu thường trú và chổ ở: Khóm C, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 02/12; Hoàn cảnh gia đình: Con ông: Hà Văn L, sinh năm 1969; Con bà: Trần Thị Mỹ D, sinh năm 1968; Gia đình có 03 anh chị em. Bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; Vợ, con: Chưa; Tiền án: Không; Tiền sự: 01 vào ngày 13/10/2022 bị Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở điều trị nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng. Đang chấp hành tại Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đồng Tháp; Tạm giữ, tạm giam: Không; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).
* Bị hại: Anh Trần Hữu T1, sinh năm 1989; HKTT: ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (hiện đang cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đồng Tháp) (có mặt).
* Người làm chứng:
- - Anh Trần Hoàng T2, sinh năm 1995; HKTT: Khóm B, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp (hiện đang cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đồng Tháp) (có mặt).
- - Anh Lý Võ Anh T3, sinh năm 1994; HKTT: Ấp B, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (hiện đang cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đồng Tháp) (vắng mặt).
- - Anh La Văn Đ, sinh năm 1986; HKTT: Khóm C, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp (hiện đang cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đồng Tháp) (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ 40 phút, ngày 21/02/2023, Bùi Bôn B là học viên đang chấp hành Quyết định cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đồng Tháp (đang sinh hoạt tại phòng 5A) đi đánh bóng chuyền về phòng thì nghe có học viên mới vào Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đồng Tháp nên cùng Huỳnh Thanh G (đang sinh hoạt tại phòng 8A), Hà Văn Minh T4 (đang sinh hoạt tại phòng 6A) cùng là học viên cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở đi đến phòng 7A thì thấy anh Trần Hữu T1, sinh năm 1989, nơi thường trú: Ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp ngồi trong phòng. Lúc này, Bôn B đi đến đứng đối diện anh T1 để hỏi chuyện lúc ở trên khu cắt cơn thì anh T1 không trả lời, cho rằng anh T1 có thái độ không chấp hành nên dùng chân đá nhiều cái trúng mặt, ngực và lưng của anh T1, làm anh T1 té ngã xuống nền gạch, ra máu ở miệng. Tiếp đó, Huỳnh Thanh G và Hà Văn M1 T1 xông vào dùng chân đá nhiều cái vào tay và hông trái, lưng, vai phải của anh T1. Do thấy anh T1 ra máu nhiều ở miệng nên cả ba người dừng lại bỏ đi về phòng. Vụ việc được anh T1 đến báo Cán bộ Cơ sở điều trị nghiện và được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ1 đồng thời trình báo đến Công an xã M, huyện C.
Vật chứng thu giữ gồm:
- - 01 (một) áo thun dài tay màu xanh mặt trước bên trái có in dòng chữ màu trắng "Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đồng Tháp" và 01 (một) quần thun ngắn màu xanh, sọc màu vàng thu giữ của bị can Huỳnh Thanh G.
- - 01 (một) áo thun dài tay màu xanh phía sau có in dòng chữ màu trắng "Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đồng Tháp", chữ số màu vàng "64" và 01 (một) quần đùi màu đen thu giữ của bị can Bùi Bôn B.
- - 01 (một) áo thun dài tay màu xanh phía sau có in dòng chữ màu trắng "Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đồng Tháp", chữ số màu vàng "40" và 01 (một) quần thun màu xanh đen thu giữ của bị can Hà Văn Minh T4.
Tại biên bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 105/TGT ngày 01/3/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ đã giám định thương tích đối với Trần Hữu T1 kết luận như sau:
- - Vết thương phần mềm niêm mặc môi dưới bên trái, kích thước trung bình. Tỷ lệ tổn thương 02%.
- - 02 vết biến đổi sắc tố da vùng hàm trái, mắt phải đến gò má phải. Mỗi vết 01%.
- - Gãy răng 3.3. Tỷ lệ tổn thương 02%.
- - Gãy ngành ngang xương hàm dưới không ảnh hương khớp cắn. Tỷ lệ tổn thương 09%
- - Tổng tỷ lệ tổn thương là 14% tại thời điểm giám định.
- - Các tổn thương trên do vật tày gây ra. Tổn thương vùng hàm trái, niêm mạc môi dưới bên trái, gãy xương hàm dưới có chiều hướng tác động từ trái qua phải, từ ngoài vào trong. Tổn thương vùng mắt phải đến gò má phải có chiều hướng từ phải qua trái, từ ngoài vào trong.
Ngày 27/7/2023 các bị can Bùi Bôn B, Huỳnh Thanh G, Hà Văn Minh T4 đã thỏa bồi thường xong trách nhiệm dân sự cho Trần Hữu T1 số tiền là 20.486.000 đồng. Hiện nay, T1 không còn yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự.
Tại Cáo trạng số 53/CT-VKSHCL ngày 26/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh đã truy tố các bị cáo Bùi Bôn B, Huỳnh Thanh G, Hà Văn M1 T1 về tội “Cố ý gây thương tích”; tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, 17, 38, 58 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Xử phạt bị cáo Bùi Bôn B với mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù;
- Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh G với mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù;
- Xử phạt bị cáo Hà Văn Minh T4 với mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự đề nghị tuyên như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
* Tại phiên tòa, các bị cáo Bùi Bôn B, Huỳnh Thanh G, Hà Văn Minh T4 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng và Luận tội của Viện kiểm sát đã công bố, lời nói sau cùng của các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo sớm trở về với gia đình và hòa nhập với cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, mọi hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo Bùi Bôn B, Huỳnh Thanh G, Hà Văn Minh T4 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội được mô tả trong bản cáo trạng số 53/CT-VKSHCL ngày 26/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh là đúng với hành vi của các bị cáo. Chính các bị cáo Bùi Bôn B, Huỳnh Thanh G, Hà Văn Minh T4 đang là học viên tại Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đồng Tháp, không có mâu thuẫn với Trần Hữu T1 nhưng các bị cáo đã dùng chân đá nhiều cái trúng vào vùng mặt và người của anh T1 gây thương tích với tổng tỷ lệ thương tật 14%, xảy ra vào khoảng 15 giờ 40 phút ngày 21/02/2023 tại phòng 7A Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đồng Tháp thuộc ấp D, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Lời khai nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của những bị hại, những người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Với những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử kết luận, hành vi phạm tội của các bị cáo Bùi Bôn B, Huỳnh Thanh G, Hà Văn Minh T4 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự có quy định:
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
- ...;
- g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
- i) Có tính chất côn đồ;
- ...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
- ...
- đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.”
[3] Xét hành vi của các bị cáo: Các bị cáo Bùi Bôn B, Huỳnh Thanh G, Hà Văn M1 T4 là người đã thành niên, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Tất cả các bị cáo đều là những học viên đang cai nghiện tại đây, các bị cáo thừa khả năng nhận thức được Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đồng Tháp là nơi tập trung nhiều người đang học tập, sinh sống, làm việc tại đây với những học viên ở các huyện khác nói chung và huyện C nói riêng đến đây để cai nghiện, chữa bệnh... để sau này tất cả các học viên có được sức khỏe tốt, có cuộc sống lành mạnh, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội. Các bị cáo phải ý thức được điều này và phải ra sức đóng góp công sức vào sự phát triển chung. Đáng lý ra, các bị cáo phải biết tôn trọng pháp luật, sống lương thiện có ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên, các bị cáo không làm được như vậy mà lại tiếp tục vi phạm pháp luật. Tất cả các bị cáo trong vụ án đều biết dùng chân đá nhiều cái trúng vào vùng mặt và người của anh T4 sẽ gây thương tích cho bị hại. Lẽ ra, các bị cáo phải biết kiềm chế bản thân để tìm cách giải quyết mâu thuẫn một cách đúng đắn, nhưng các bị cáo đã không làm như thế, với bản chất hung hăn, côn đồ, thích dùng bạo lực để giải quyết mọi xung đột, mâu thuẫn xảy ra và thiếu ý thức chấp hành pháp luật nên các bị cáo đã có hành vi phạm tội như đã nêu trên. Hành vi của các bị cáo là cố ý và thực hiện tội phạm đã hoàn thành. Hơn nữa các bị cáo là các đối tượng đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở ci nghiện bắt buộc. Do vậy, ngoài việc chịu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích, các bị cáo còn phải chịu trách nhiệm hình sự về tình tiết tăng nặng định khung hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Trong vụ án này, cả ba bị cáo cùng cố ý thực hiện tội phạm, nhưng không có sự câu kết bàn bạc chặt chẽ với nhau và không có sự điều khiển của người nào, nên đây là dạng đồng phạm giản đơn. Tuy nhiên, xét về nhân thân, hành vi, động cơ, mục đích và hậu quả trong việc phạm tội của từng bị cáo có khác nhau. Cho nên cần xem xét đối với từng bị cáo. Đối với bị cáo Bùi Bôn B là người rủ các bị cáo khác đến phòng 7A, bị cáo cũng là người có hành vi dùng chân đá anh Trần Hữu T1 trước nên phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án. Đối với các bị cáo Huỳnh Thanh G, Hà Văn Minh T4 khi nghe Bôn B rủ qua phòng 7A thì đi theo, khi thấy bị cáo Bôn B dùng chân đá anh Trần Hữu T1 nhưng không can ngăn mà còn có hành vi dùng chân đá nhiều cái trúng vào người anh T1 gây thương tích nên G và Minh T4 là đồng phạm với vai trò là người cùng thực hiện hành vi gây thương tích cho anh T4.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật, gây xôn xao dư luận, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân và làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại Cơ sở điều trị Nghiện và địa phương nơi xảy ra vụ án. Do đó, việc đưa các bị cáo ra xét xử tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay là cần thiết nên cũng cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo và cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để các bị cáo có thời gian học tập cải tạo trở thành người tốt có ích cho gia đình và cho xã hội, đồng thời cũng nhằm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo B, G, T4 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong giai đoạn điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo Bùi Bôn B, Nguyễn Thanh G1, Hà Văn Minh T4 đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; sau khi sự việc xảy ra các bị cáo Bùi Bôn B, Nguyễn Thanh G1, Hà Văn Minh T4 đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại xong; tại phiên tòa, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; về nhân thân, các bị cáo trong vụ án xuất thân là thành phần nhân dân lao động, hoàn cảnh gia đình khó khăn về kinh tế. Đây được xem là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Nên, Hội đồng xét xử cần xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo khi lượng hình.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, truy tố giữa các bị cáo và bị hại anh Trần Hữu T1 đã thỏ thuận bồi thường xong. Tại phiên tòa sơ thẩm, bị hại không yêu cầu các bị cáo bồi thường thêm bất cứ khoản nào phù hợp theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) áo thun dài tay màu xanh mặt trước bên trái có in dòng chữ màu trắng "Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đồng Tháp" và 01 (một) quần thun ngắn màu xanh, sọc màu vàng thu giữ của bị cáo Huỳnh Thanh G; 01 (một) áo thun dài tay màu xanh phía sau có in dòng chữ màu trắng "Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đồng Tháp", chữ số màu vàng "64" và 01 (một) quần đùi màu đen thu giữ của bị cáo Bùi Bôn B; 01 (một) áo thun dài tay màu xanh phía sau có in dòng chữ màu trắng "Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đồng Tháp", chữ số màu vàng "40" và 01 (một) quần thun màu xanh đen thu giữ của bị cáo Hà Văn M1 T1 là vật không có giá trị sử dụng, các bị cáo và đương sự không có yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
[8] Đối với hành vi gây thương tích của các bị cáo tại Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đồng Tháp xảy ra nhanh và không gây ồn ào, ảnh hưởng đến an ninh trật tự, sinh hoạt của các phòng xung quanh, các hộ dân xung quanh, nên không đủ căn cứ xử lý hành vi gây rối trật tự công cộng là phù hợp.
[9] Về án phí: Bị cáo Bùi Bôn B, Nguyễn Thanh G1, Hà Văn Minh T4 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Bùi Bôn B, Nguyễn Thanh G1, Hà Văn M1 T4 cùng phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, 17, 38, 58 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Bùi Bôn B 03 (ba) năm ba (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh G1 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt.
Xử phạt bị cáo Hà Văn Minh T4 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt.
Về trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết xong.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) áo thun dài tay màu xanh mặt trước bên trái có in dòng chữ màu trắng "Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đồng Tháp" và 01 (một) quần thun ngắn màu xanh, sọc màu vàng thu giữ của bị can Huỳnh Thanh G; 01 (một) áo thun dài tay màu xanh phía sau có in dòng chữ màu trắng "Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đồng Tháp", chữ số màu vàng "64" và 01 (một) quần đùi màu đen thu giữ của bị can Bùi Bôn B; 01 (một) áo thun dài tay màu xanh phía sau có in dòng chữ màu trắng "Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đồng Tháp", chữ số màu vàng "40" và 01 (một) quần thun màu xanh đen thu giữ của bị can Hà Văn M1 T4 là vật không có giá trị sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh).
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21, điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Bùi Bôn B, Nguyễn Thanh G1, Hà Văn Minh T4 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Bùi Bôn B, Nguyễn Thanh G1, Hà Văn Minh T4, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Trung Dũng |
Bản án số 60/2023/HS-ST ngày 05/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 60/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Bôn Ba
