Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NAM TRỰC

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 60/2024/HS-ST

Ngày 05 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Nguyễn Thị Ánh .

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Bình;

Bà Phạm Thị Xuyến.

Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Minh Toàn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Trực.

Đại diện VKS nhân dân huyện N tham gia phiên toà:Trần Thị T - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 57/2024/HSST ngày 14 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án xét xử số: 61/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đặng Văn Q, sinh năm 1982; nơi sinh: huyện X, tỉnh Nam Định; nơi thường trú: Thôn H, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Xuân P, sinh năm 1946; con bà Hoàng Thị T1, sinh năm 1950; gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ ba; vợ: Nguyễn Thị T2, sinh năm 1987; có 1 con sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/7/2024 đến ngày 18/10/2024.

- Bị hại: Anh Bùi Văn T3, sinh năm 2002; trú tại: Xóm T, xã N, huyện N (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Bùi Văn Đ, sinh năm 1980; trú tại: Xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định

Tại phiên tòa: Bị cáo có mặt; ông Đ vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 16/6/2024, bị cáo Đặng Văn Q, điều khiển xe ô tô nhãn hiệu KIA MORNING, màu bạc, biển số 30E-677.68 đi từ huyện Q, tỉnh Thái Bình về nhà tại huyện X, tỉnh Nam Định. Đến khoảng 21 giờ 43 phút cùng ngày, Q điều khiển xe ô tô biển số 30E-677.68 đi đến Km số 106+200, Quốc lộ B, thuộc địa phận xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định, theo hướng cầu T - cầu L, với tốc độ khoảng 70km/h và đi ở làn đường dành cho phương tiện cơ giới di chuyển bên phải theo chiều đi của mình, sát dải phân cách cứng giữa đường, phía trước xe ô tô do Q điều khiển khoảng 50-60m có 1 xe ô tô khách giường nằm đang di chuyển cùng chiều. Quý quan sát thấy ở lề đường bên phải theo chiều đi có đặt biển báo hiệu giao nhau với đường không ưu tiên, nhưng do trời đã tối muộn, trên đường có ít phương tiện qua lại nên Q chủ quan cho rằng chỉ có ô tô khách trên đang lưu thông trên đường, nên không giảm tốc độ mà tiếp tục điều khiển xe ô tô di chuyển theo chiều đi của mình. Khi đang đi, Q phát hiện phía trước khoảng 10m, trên làn đường Q đang điều khiển có 1 xe đạp điện do anh Bùi Văn T3 điều khiển đi phía trước cùng chiều, đang có xu hướng đi hơi chếch sang bên trái theo chiều đi. Q phản xạ nhấn phanh xe, đánh lái sang phải để tránh nhưng do khoảng cách gần không kịp tránh, nên phần đầu bên trái xe ô tô Q điều khiển đã va chạm với phía sau xe đạp điện, làm bánh sau xe đạp điện bị dắt vào phía trước đầu xe ô tô của Q còn thân xe điện bị xe ô tô đẩy về phía trước khoảng 15m thì dừng lại, anh T3 bị hất văng lên kính lái xe ô tô, khi xe ô tô dừng lại thì anh T3 ngã xuống đường tại vị trí phía trước đầu xe đạp điện. Hậu quả anh T3 bị thương được đưa đi bệnh viện cấp cứu, đến ngày 17/6/2024 thì tử vong, hai phương tiện bị hư hỏng.

Về vật chứng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N:

  • + 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA MORNING, màu bạc, biển số 30E-677.68; 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 30E-677.68; 01 giấy chứng nhận đăng kiểm xe ô tô biển số 30E-677.68 có thời hạn đến ngày 15/5/2025;
  • + 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2 mang tên Đặng Văn Q, có thời hạn đến ngày 25/12/2033;
  • + 01 xe đạp điện nhãn hiệu LIHAZE màu trắng.
  • + 01 đoạn video tại camera an ninh của gia đình ông Trần Phát Ý, sinh năm 1979, trú tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N và Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông đồng thời xét nghiệm nồng độ cồn và chất gây nghiện đối người điều khiển phương tiện tham gia giao thông theo đúng quy định của pháp luật.

* Tại bản kết luận giám định pháp y tử thi số: 1140/KLGĐTT-KTHS ngày 25/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh N, kết luận: Anh Bùi Văn T3 chết do chấn thương vỡ xương hộp sọ, chảy máu nội sọ.

* Tại bản kết luận định giá tài sản số 26/KLĐG ngày 29/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện N kết luận:

- Giá trị thiệt hại của xe ô tô biển số 30E-677.68, nhãn hiệu KIA MORNING, màu bạc, loại xe ô tô con tại thời điểm xảy ra sự việc có giá trên thị trường là 2.800.000 đồng;

- Giá trị thiệt hại của 01 xe đạp điện, nhãn hiệu LIHAZE màu trắng, không có bàn đạp, không có gương chiếu hậu 2 bên tại thời điểm xảy ra sự việc có giá trên thị trường là 270.000 đồng.

* Tại Phiếu kết quả đo nồng độ cồn lúc 23 giờ 53 phút ngày 16/6/2024 xác định kết quả đo nồng độ cồn trong hơi thở của Đặng Văn Q là 0,000 mg/L; Tại Phiếu kết quả xét nghiệm mẫu nước tiểu của Đặng Văn Q lúc 0 giờ 25 phút ngày 17/6/2024 tại Bệnh viện Đ1 - Nam Định, xác định: Chất gây nghiện: Âm tính.

* Tại bản kết luận giám định số: 1151/KL-KTHS, ngày 10/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh N, kết luận: Không phát hiện thấy dấu vết bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong toàn bộ mẫu cần giám định; Không đủ cơ sở để xác định tốc độ xe ô tô biển số 30E-677.68 và xe đạp điện không có biển kiểm soát ngay trước thời điểm xảy ra va chạm trong mẫu giám định. Điểm, vị trí va chạm giữa xe ô tô biển số 30E-677.68 và xe đạp điện không có biển kiểm soát trên hiện trường trong mẫu giám định nằm trên phần đường bên phải dải phân cách cứng theo chiều chuyển động của xe ô tô biển số 30E-677.68 và xe đạp điện không có biển kiểm soát.

Quá trình điều tra xác định: Điểm va chạm đầu tiên là phần đầu bên trái ba đờ sốc phía trước xe ô tô biển số 30E-677.68 va chạm với phía sau bánh sau xe đạp điện của anh Bùi Văn T3. Vị trí va chạm giữa xe ô tô biển số 30E-677.68 với xe đạp điện nằm ở làn đường dành cho các phương tiện cơ giới di chuyển trên đường QL21B theo hướng cầu T - cầu L, sát dải phân cách cứng giữa đường, ngay phía trước vùng nhựa vỡ và dép (3) tại hiện trường. Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tai nạn là do Đặng Văn Q điều khiển xe ô tô biển số 30E-677.68 đi không chú ý quan sát, không tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi quan sát thấy báo hiệu cảnh báo nguy hiểm.

Tại Cơ quan điều tra bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Về trách nhiệm dân sự: Đặng Văn Q đã tự nguyện bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền là 140.000.000 đồng. Ông Bùi Văn Đ đã nhận đủ số tiền bồi thường trên, không yêu cầu hỗ trợ bồi thường gì khác và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Đặng Văn Q. Về hư hỏng của phương tiện các bên tự sửa chữa không yêu cầu giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra xác định 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA MORNING, màu bạc, biển số 30E-677.68 là tài sản hợp pháp của anh Đặng Văn Q, 01 xe đạp điện nhãn hiệu LIHAZE màu trắng là tài sản hợp pháp của anh Bùi Văn T3. Nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trả lại cho Q 01 xe ô tô biển số 30E-677.68, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe và 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển số 30E-677.68 và trả lại xe đạp điện trên cho ông Bùi Văn Đ (bố của anh T3).

Cáo trạng số: 61/CT-VKS ngày 14 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Đặng Văn Q về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Đặng Văn Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự:

Xử phạt bị cáo Đặng Văn Q từ 01 năm đến 01 năm, 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm;

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và người đại diện bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong, không có yêu cầu bồi thường gì thêm, nên không đặt ra xem xét;

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2 mang tên Đặng Văn Q;

Về Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không có tranh luận gì với quan điểm luận tội của Đại diện Viện kiểm sát và nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, vụ việc xảy ra ngoài ý muốn, tự nguyện hồi thường thiệt hại, có hoàn cảnh khó khăn, bố đẻ mặc bệnh nặng, con còn quá nhỏ là lao động chính trong gia đình. Nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương để có thời gian chăm sóc gia đình, lao động để khắc phục hậu quả đã xảy ra.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Người đại diện hợp pháp của bị hại đã được Tòa án tống đạt giấy triệu tập phiên tòa hợp lệ, ông Bùi Văn Đ vắng mặt, nhưng đã có lời khai tại cơ quan điều tra lưu trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của ông Đ không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Xét về hành vi của bị cáo thấy rằng: Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, người chứng kiến, biên bản khám nghiệm hiện trường; bản kết luận giám định pháp y tử thi số: 1140/KLGĐTT-KTHS ngày 25/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh N; Bản kết luận định giá tài sản số: 26/KLĐG ngày 29/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện N và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 43 phút ngày 16/6/2024, tại Km số 106+200, Quốc lộ B, thuộc địa phận xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định, bị cáo Đặng Văn Q có giấy phép lái xe ô tô hạng B2, điều khiển xe ô tô nhãn hiệu KIA MORNING, màu bạc, biển số 30E-677.68 theo hướng cầu T - cầu L. Khi điều khiển xe bị cáo không chú ý quan sát, không tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường, khi quan sát thấy biển báo hiệu cảnh báo nguy hiểm bị cáo không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn đã va chạm với xe đạp điện do anh Bùi Văn T3 điều khiển đi phía trước cùng chiều. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 23, Điều 8; khoản 1, Điều 12 Luật Giao thông đường bộ và khoản 1, Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ. Hậu quả anh T3 chết do chấn thương vỡ xương hộp sọ, chảy máu nội sọ và trị giá tài sản bị thiệt hại tại thời điểm xảy ra sự việc trên thị thường với tổng số tiền là 3.070.000 đồng (trong đó xe ô tô là 2.800.000đ và xe đạp điện là 270.000₫). Như vậy, hành vi trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực truy tố đối với bị cáo là có căn cứ.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an, an toàn giao thông tại nơi xảy ra vụ việc nói riêng và các địa phương khác nói chung. Bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật hình sự, nhận thức rõ hành vi bị cáo thực hiện bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng khi tham gia giao thông đường bộ thiếu tập trung, chủ quan không không giảm tốc độ trên đoạn đường có biển báo hiệu cảnh báo nguy hiểm, trực tiếp xô vào phương tiện tham gia giao thông đi cùng chiều, đã cướp đi tính mạng của anh Bùi Văn T3, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình.

[5] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố đẻ có tham gia kháng chiến được tặng huân chương chiến sỹ giải phóng hạng Ba, hiện đang mắc bệnh ung thư phổi, bị cáo tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại, người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[6] Về hình phạt: Xét hành vi phạm tội, tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt, hoàn cảnh gia đình khó khăn, con còn quá nhỏ, bố đẻ tham gia kháng chiến hiện đang bị mắc bệnh trọng, bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình được chính quyền địa phương nơi cư trú xác nhận. Hơn nữa trong vụ án này bị hại cũng có 1 phần lỗi khi điều khiển xe đạp điện được xác định là phương tiện thô sơ nhưng anh T3 vẫn điều khiển xe đi ở làn đường dành cho các phương tiện cơ giới là vi phạm khoản 2, Điều 13, Luật Giao thông đường bộ. Do vậy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự như quan điểm đề xuất của đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và người đại diện hợp pháp bị hại đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường xong; về giá trị tài sản bị hư hỏng đại diện bị hại có ý kiến tự khắc khắc sửa chữa không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản tiền nào khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[8] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2 mang tên Đặng Văn Q đang lưu giữ trong hồ sơ vụ án. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội do lỗi vô ý nên cần trả lại bị cáo theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[9] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Đặng Văn Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

    Xử phạt bị cáo Đặng Văn Q 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo Đặng Văn Q cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

  2. Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đang được áp dụng đối với bị cáo Đặng Văn Q.

  3. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tuyên trả cho bị cáo 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2 mang tên Đặng Văn Q đang lưu giữ trong hồ sơ vụ án. (Bị cáo Q liên hệ với Văn phòng Tòa án nhân dân huyện Nam Trực để nhận lại giấy tờ này).
  4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại, đại diện bị hại;
  • - Toà án nhân dân tỉnh Nam Định;
  • - VKS nhân dân huyện Nam Trực;
  • - Công an huyện Nam Trực;
  • - Chi cục THADS huyện Nam Trực;
  • - UBND xã Xuân Hòa, huyện Xuân Trường;
  • - Lưu hồ sơ + VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Ánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 05/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 60/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Văn Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger