Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2024/HNGĐ- ST

Ngày 02/8/2024

“V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán -Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Oanh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Hữu Thái
  2. Bà Nguyễn Thị Yến

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 02/8/2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 152/2024/TLST-HNGĐ ngày 14/5/2024 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/7/2024 và Quyết định Hoãn phiên tòa số: 44/2024/QĐST-HNGĐ ngày 18/7/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn H, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang (có mặt).
  2. Bị đơn: Anh Dương Văn C, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn H, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai có trong hồ sơ, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Đ trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Dương Văn C có kết hôn với nhau năm 2007 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã C ngày 05/9/2007 trên cơ sở tự nguyện có tìm hiểu. Sau khi kết hôn thì anh chị về nhà đẻ của anh C ở khoảng hơn 1 năm. Sau đó, anh chị chuyển ra sống riêng, không sống chung với bố mẹ anh C nữa. Anh chị ra ở riêng nhưng vẫn thăm hỏi ông bà nội ngoại hai bên thường xuyên vì sống cùng thôn với nhau. Thời gian đầu, anh chị chung sống vui vẻ, hạnh phúc.

Năm 2019, anh C đi nước ngoài xuất khẩu lao động. Thời gian đầu, thu nhập ổn định nên anh C gửi về 12.000.000 đồng/tháng để chị chăm sóc con cái, gia đình. Tuy nhiên, đến đầu năm 2022, anh C không gửi tiền về cho chị chăm sóc gia đình nhưng theo chị được biết thì anh C dùng số tiền đó để cho cô ruột của mình vay. Đến năm 2023, anh C về nước, do không có công việc ổn định nên anh C thường xuyên ở nhà, không đi làm. Công việc trong nhà, cũng như việc chăm sóc con cái là do một mình chị chăm sóc, chi phí sinh hoạt hoàn toàn do chị cáng đáng.

Khoảng tháng 7/2023, chị có lên gặp mẹ chồng (là mẹ anh C) để mượn miếng đất vườn để làm trại nuôi chim, mục đích để đầu tư cho anh C làm ăn ở nhà, chăm sóc con cái phụ giúp chị chứ chị không muốn anh C đi nước ngoài nữa, do trước đó anh C cũng có ý định đi nước ngoài thêm một lần nữa. Tuy nhiên, sau đó không biết anh C và mẹ chồng chị nói chuyện gì với nhau mà C giận chị, ở nhà không chịu đi làm, không nói chuyện, ăn chung, ngủ chung, sinh hoạt chung cùng chị và các con khoảng 01 tháng. Từ đó đến nay, anh C thường xuyên như vậy, mắng chửi chị, không nói chuyện cùng chị. Thỉnh thoảng, anh C có đánh chị, chị cảm thấy rất áp lực, lo lắng cho sự phát triển của các con nên chị quyết định ly hôn.

Nay, tôi xác định cuộc sống hôn nhân không thể cứu vãn, chị cũng đã nhiều lần níu kéo để anh C chịu khó làm ăn để cùng chung sống, nuôi dạy các con nhưng anh C không chịu. Chị có nói chuyện với gia đình anh C nhưng mẹ ruột và cô ruột của anh C thờ ơ, không dàn xếp gì cũng như cô ruột anh C còn xúi giục anh C ly hôn chị. Chị cảm nhận mục đích hôn nhân không đạt được. Chị đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn cho anh chị, để tôi sớm ổn định cuộc sống để chăm sóc các cháu.

- Về con chung: Trong quá trình chung sống, anh chị có 04 con chung là: Cháu Dương Thị Tuyết M, sinh ngày 14/6/2008; cháu Dương Tuyết L, sinh ngày 10/6/2010; cháu Dương Nguyệt A, sinh ngày 23/11/2012 và cháu Dương Ngọc D, sinh ngày 07/5/2020. Hiện nay các cháu đang ở với chị. Tuy nhiên, sau khi ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao 04 con chung cho chị trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng vì nhiều năm nay chị vẫn chăm sóc, nuôi dưỡng các con rất tốt.

- Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau này cần giải quyết, chị sẽ đề nghị sau.

- Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ chung, ruộng đất nông nghiệp: Anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra chị Nguyễn Thị Đ không còn yêu cầu nào khác.

* Theo biên bản ghi lời khai, bị đơn là anh Dương Văn C trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị Đ kết hôn năm 2007, trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn, anh chị về chung sống với nhau ngay tại nhà đẻ của anh tại Thôn H. Anh chị có thời gian dài chung sống hạnh phúc.

Đến khoảng năm 2023, sau khi anh ở nước ngoài về, do kinh tế khó khăn nên vợ chồng chục chặc, không hòa thuận. Hai anh chị có ngồi lại dàn xếp để giải quyết mâu thuẫn vợ chồng nhưng không hiệu quả. Gia đình anh cũng có biết chuyện, cũng hòa giải để anh chị đoàn tụ nhưng không thành.

Nay chị Đ đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, anh không muốn ly hôn vì ly hôn các con chung sẽ khổ. Nếu chị Đ nhất quyết muốn ly hôn thì anh đồng ý ly hôn. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

- Về con chung: Trong quá trình chung sống, anh chị có 04 con chung là: Cháu Dương Thị Tuyết M, sinh ngày 14/6/2008; cháu Dương Tuyết L, sinh ngày 10/6/2010; cháu Dương Nguyệt A, sinh ngày 23/11/2012 và cháu Dương Ngọc D, sinh ngày 07/5/2020. Hiện nay cả 04 cháu đều đang ở với anh chị. Sau khi ly hôn, anh đề nghị được nuôi cháu Dương Tuyết M và cháu Dương Nguyệt A. Còn cháu Dương Tuyết L và cháu Dương Ngọc D sẽ do chị Đ là mẹ của các cháu trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Tuy nhiên, đề nghị Tòa lấy ý kiến của các cháu, các cháu muốn ở với anh hay với chị Đ anh đều đồng ý chấp nhận. Anh chị tự thỏa thuận về vấn đề cấp dưỡng, Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ chung, ruộng đất nông nghiệp: Anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, anh Dương Văn C không còn ý kiến nào khác.

- Ngày 14 tháng 6 năm 2024, Tòa án tiến hành mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Dương Văn C vắng mặt nên các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

- Tại phiên tòa ngày 02 tháng 8 năm 2024, chị Nguyễn Thị Đ có mặt, anh Dương Văn C đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử vắng mặt anh C.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

  • + Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên toà hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; nguyên đơn có mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, nên đề nghị HĐXX xét xử vụ án theo thủ tục chung.

  • + Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các Điều 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 28, 35, 39, 144, khoản 4 Điều 147, Điều 150, điểm e khoản 1 Điều 192, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, xử:

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Đ được ly hôn anh Dương Văn C.

Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Đ trực tiếp nuôi 04 con chung là Dương Thị Tuyết M, sinh ngày 14/6/2008; Dương Tuyết L, sinh ngày 10/6/2010; Dương Nguyệt A, sinh ngày 23/11/2012 và Dương Ngọc D, sinh ngày 07/5/2020.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu giải quyết.

Ngoài ra, còn đề nghị xử lý về phần án phí của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

  1. Về thủ tục tố tụng: Đối với nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Đ có mặt; bị đơn là anh Dương Văn C đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt; căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định.

  2. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị Đ và anh Dương Văn C có địa chỉ tại xã C, huyện L, tỉnh Bắc giang nên căn cứ vào khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

  3. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Nguyễn Thị Đ có đơn xin ly hôn và đề nghị giải quyết về con chung với anh Dương Văn C nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28 xác định quan hệ pháp luật là "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con".

  4. Về nội dung:

    • [4.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Đ và anh Dương Văn C kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang vào ngày 05/9/2007. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Đ và anh C là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống với nhau ngay. Quá trình chung sống anh chị phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn theo chị Đ là do anh C thường xuyên mắng chửi chị, không nói chuyện cùng chị và thỉnh thoảng anh C có đánh chị. Theo anh C thì nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do kinh tế khó khăn nên vợ chồng chục chặc, không hòa thuận. Hai vợ chồng có ngồi lại dàn xếp để giải quyết mâu thuẫn vợ chồng nhưng không hiệu quả. Gia đình anh cũng có biết chuyện, cũng hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng không thành.

    • Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương, bà Nguyễn Thị H – trưởng thôn H, xã C cho biết: Chị Đ và anh C có phát sinh mâu thuẫn, tuy nhiên nguyên nhân mâu thuẫn là do đâu và mâu thuẫn như thế nào thì bà không nắm được, chị Đ và anh C cũng không có đơn đề nghị địa phương hòa giải mâu thuẫn vợ chồng. Nay chị Đ xin ly hôn anh C thì bà đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

    • Điều này chứng tỏ hôn nhân giữa chị Đ và anh C đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần xử cho chị Đ được ly hôn với anh C là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

    • [4.2] Về con chung: Chị Đ và anh C có bốn con chung là Dương Thị Tuyết M, sinh ngày 14/6/2008; Dương Tuyết L, sinh ngày 10/6/2010; Dương Nguyệt A, sinh ngày 23/11/2012 và Dương Ngọc D, sinh ngày 07/5/2020. Hiện nay cả bốn con chung đang ở cùng chị Đ. Nay ly hôn, chị Đ đề nghị được nuôi cả bốn con chung, anh C đề nghị được nuôi hai con chung là Dương Tuyết M, sinh ngày 14/6/2008 và cháu Dương Nguyệt A, sinh ngày 23/11/2012 nhưng nếu các con có nguyện vọng muốn ở với ai thì anh cũng đồng ý. Các con chung là Dương Thị Tuyết M, sinh ngày 14/6/2008; Dương Tuyết L, sinh ngày 10/6/2010 và Dương Nguyệt A, sinh ngày 23/11/2012 đều có nguyện vọng được ở với chị Đ.

Xét thấy: Đề nghị của chị Đ và anh C là tự nguyện, không bị ai ép buộc, phù hợp pháp luật, phù hợp đạo đức xã hội. Tuy nhiên, hiện nay các con đang ở với chị Đ, để phù hợp với nguyện vọng của con chung và để ổn định cuộc sống của các con chung thì cần giao bốn con chung là Dương Thị Tuyết M, sinh ngày 14/6/2008; Dương Tuyết L, sinh ngày 10/6/2010; Dương Nguyệt A, sinh ngày 23/11/2012 và Dương Ngọc D, sinh ngày 07/5/2020 cho chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với khoản 2 Điều 81 luật hôn nhân và gia đình.

Sau khi vợ chồng ly hôn anh C được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh thực hiện quyền này là phù hợp với các điều 58, 82 luật hôn nhân gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị Đ và anh C không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

  1. [4.3] Về tài sản chung, công nợ và ruộng đất nông nghiệp: Chị Đ và anh C không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

  2. [5] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

  3. [6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình; Các Điều 28, 35, 39, 144, khoản 4 Điều 147, Điều 150, điểm e khoản 1 Điều 192, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, X:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Đ được ly hôn với anh Dương Văn C.

  2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Đ trực tiếp nuôi bốn con chung là Dương Thị Tuyết M, sinh ngày 14/6/2008; Dương Tuyết L, sinh ngày 10/6/2010; Dương Nguyệt A, sinh ngày 23/11/2012 và Dương Ngọc D, sinh ngày 07/5/2020.

    Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

    Anh C có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở anh thực hiện quyền này. Tuy nhiên, người không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người trực tiếp nuôi dưỡng.

    Vì lợi ích của con chung, Tòa án có thể thụ lý giải quyết vụ án thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc vụ án yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nếu sau này các đương sự có đơn yêu cầu và theo quy định của pháp luật.

  3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Đ phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng chị đã nộp tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số: 0008230 ngày 14/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam. Xác nhận chị Nguyễn Thị Đ đã nộp đủ án phí.

  4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Lục Nam;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Nam;
  • - UBND xã Chu Điện, huyện Lục Nam;
  • - Lưu HS, Vp.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Nguyễn Ngọc Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2024/HNGĐ- ST ngày 02/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 60/2024/HNGĐ- ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị Đ xin ly hôn anh Dương Văn C
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger