Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THÁP MƯỜI

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 05-7-2024

“V/v Ly hôn; tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn giữa chị Thạch Thị Ư và
anh Trương Minh C

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Kim Oanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Vững.

Ông Nguyễn Văn Ánh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngọc - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 05 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 195/2024/TLST-HNGĐ, ngày 19 tháng 4 năm 2024, về “Ly hôn; tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 203/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 03 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 159/2024/QÐST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Thạch Thị Ư, sinh năm: 2000; HKTT: Tổ H, ấp L, xã T, huyện T, Đồng Tháp. (Có mặt)

Bị đơn: Anh Trương Minh C, sinh năm: 1999 HKTT: Tổ H, ấp L, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. (Vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 08 tháng 4 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Thạch Thị Ư trình bày:

Chị Ư và anh C cưới nhau năm 2019, đến ngày 24/7/2019 thì đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Vợ chồng sống với nhau hạnh phúc được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường hay cải nhau. Chị đã sống ly thân với anh C từ năm 2022 đến nay. Nay, chị Ư yêu cầu được ly hôn với anh Trương Minh C.

Quá trình sống chung chị Ư và anh C có 03 con chung tên Trương Thị Huỳnh N, sinh ngày 14/10/2016, Trương Minh K, sinh ngày 21/4/2019, Trương Thị Trà M, sinh ngày 24/12/2020. Hiện các con đang sống với anh C. Chị Ư đồng ý anh C tiếp tục nuôi các con chung và chị không cấp dưỡng nuôi con chung.

+ Về chia tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Ý kiến của bị đơn anh Trương Minh C:

Anh Trương Minh C đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Việc chị Thạch Thị Ư xin ly hôn anh Trương Minh C là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, quy định tại Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quan hệ pháp luật tranh chấp giữa chị Ư và anh C thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện, quy định tại Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do anh C có địa chỉ cư trú tại ấp L, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười thụ lý và giải quyết vụ án là đúng quy định tại Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với anh C là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, nhưng anh C vắng mặt không rõ lý do. Do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh C là phù hợp với quy định của khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân:

Theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình thì quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập, thực hiện theo quy định của Luật này được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Do vậy, việc chị Thạch Thị Ư và anh Trương Minh C đăng ký kết hôn vào ngày 24/7/2019 theo giấy chứng nhận kết hôn số 61 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp đã tuân thủ đúng điều kiện, trình tự, thủ tục về đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại thời điểm xác lập quan hệ hôn nhân nên được công nhận là vợ chồng hợp pháp.

Tại phiên toà, chị Ư cho rằng cuộc sống hôn nhân giữa chị và anh C không hạnh phúc do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cải vả nhau. Chị bỏ nhà đi từ năm 2022 và cũng từ đó anh, chị ly thân đến nay.

Tuy đó chỉ là lời trình bày một phía của đương sự, không có chứng cứ chứng minh nhưng qua đó thấy rõ vợ chồng sống chung không hạnh phúc, vợ chồng không có sự chia sẻ với nhau trong cuộc sống, dẫn đến việc vợ chồng đã ly thân nhưng vẫn không hàn gắn được tình cảm để về chung sống xây dựng hạnh phúc gia đình, thể hiện qua việc trong thời gian dài chị Ư sinh sống tại quận B, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng anh C không tới lui tìm cách hàn gắn tình cảm. Khi Tòa án triệu tập hợp lệ anh C đến để tham gia phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tham gia phiên tòa nhưng anh C vẫn vắng mặt không rõ lý do, điều đó cho thấy anh C đã bỏ mặc không quan tâm đến cuộc hôn nhân này và cũng không có thiện chí đoàn tụ để tiếp tục xây dựng hạnh phúc gia đình cùng chị Ư. Do đó, Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhận định chị Ư và anh C đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Từ những nhận định nêu trên đã đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Thạch Thị Ư để giải quyết cho vợ chồng chị Ư và anh C ly hôn là phù hợp với quy tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về nuôi con chung:

Cháu Trương Thị Huỳnh N, sinh ngày 14/10/2016, Trương Minh K, sinh ngày 21/4/2019 và Trương Thị Trà M, sinh ngày 24/12/2020 là con chung của chị Ư và anh C, có giấy khai sinh của các cháu để chứng minh. Thời gian chị Ư và anh Cảnh xa nhau, Huỳnh N, Minh K1 và Trà M do anh C trực tiếp nuôi dưỡng. Do anh C đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản ý kiến, nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét giải quyết theo những yêu cầu của chị Ư, xem như anh C từ bỏ quyền trình bày ý kiến, yêu cầu của mình trong vụ án này. Tại phiên tòa, chị Ư cho rằng trong thời gian tìm hiểu, quen và yêu anh C, chị tự nguyện có con với anh C khi chưa đủ tuổi kết hôn, chị không yêu cầu xử lý hình sự, đồng ý làm vợ anh C. Tuy nhiên, do không hợp tính, sống không hạnh phúc, cải vả thường xuyên làm cho không khí gia đình lúc nào cũng căng thẳng. Nay, ly hôn chị đồng ý giao 03 con cho anh C tiếp tục nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nhưng trong điều kiện có thể chị sẽ chuyển tiền về cho anh C nuôi con, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Sau khi ly hôn, quyền và nghĩa vụ việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung được thực hiện theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về chia tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Chị Thạch Thị Ư phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[7] Về quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo thực hiện theo quy định tại các điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Thạch Thị Ư.

Cho chị Thạch Thị Ư ly hôn anh Trương Minh C.

2. Về nuôi con chung:

Giao con chung tên Trương Thị Huỳnh N, sinh ngày 14/10/2016, Trương Minh K, sinh ngày 21/4/2019 và Trương Thị Trà M, sinh ngày 24/12/2020 cho anh Trương Minh C nuôi dưỡng. Chị Thạch Thị Ư không phải đóng góp (cấp dưỡng) nuôi con chung cùng anh C.

Sau khi ly hôn, người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Người không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở, hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người trực tiếp nuôi con.

3. Về chia tài sản: Không yêu cầu, Tòa án không xem xét giải quyết.

4. Về nợ chung: Không yêu cầu, Tòa án không xem xét giải quyết.

5. Về án phí:

Chị Thạch Thị Ư phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005610 ngày 15/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười (Chị Ư đã nộp đủ án phí).

6. Chị Thạch Thị Ư được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Trương Minh C được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ cho anh C.

7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh;
  • - VKSND Huyện;
  • - CCTHADS Huyện;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Thanh Mỹ;
  • (GCNKH số 61 ngày ĐK 24/7/2019)
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Kim Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2024/HNGĐ-ST ngày 05/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn; tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 60/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn; tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger