|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 60/2024/HS-ST Ngày 05 – 6 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có;
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Bích Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Thu Thủy và Ông Nguyễn Văn Xuân.
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Đăng – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Dương – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 52/2022/HSST, ngày 24 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Phạm Thị H, sinh năm 1959.
- Vũ Văn L, sinh năm 1985
- Nguyễn Xuân Ư, sinh năm 1978
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn C, xã M, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn N và bà Nguyễn Thị K (đều đã chết); có chồng là Lê Văn T và 03 con; tiền án, tiền sự: chưa có; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú ; Bị cáo tại ngoại - Có mặt tại phiên tòa.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn A, xã M, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn C và bà Đặng Thị H1; có vợ là Vũ Thu T1 và 03 con; tiền án, tiền sự: chưa có; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo tại ngoại - Có mặt tại phiên tòa.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn T, xã M, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân S (đã chết) và bà Đào Thị T2; có vợ là Chử Thị L1 và 02 con; tiền án, tiền sự: chưa có; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo tại ngoại - Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Văn C1, sinh năm 1970 – Vắng mặt.
Trú tại: thôn A, xã M, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Anh Hồ Ngọc Q, sinh năm 1991 – Vắng mặt.
Trú tại: thôn T, xã M, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Anh Nguyễn Công V, sinh năm 1978 – Vắng mặt.
Trú tại: thôn C, xã M, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Anh Đoàn Văn K1, sinh năm 1970 – Vắng mặt.
Trú tại: thôn C, xã M, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Anh Cao Văn C2, sinh năm 1975 – Vắng mặt.
Trú tại: thôn T, xã M, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Anh Lê Văn S1, sinh năm 1974 – Vắng mặt.
Trú tại: thôn C, xã M, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do thấy việc đánh bạc trái phép bằng hình thức mua bán số lô, số đề thông qua kết quả giải thưởng hằng ngày của Xổ số kiến thiết Miền Bắc dễ dàng thu được lợi nhuận cho nên từ ngày 21/12/2023 đến ngày 22/12/2023 Phạm Thị H ở thôn C, xã M, huyện V, tỉnh Hưng Yên đã tự đứng ra lập bảng bán số lô, số đề cho người khác bằng cách bán trực tiếp hoặc nhận qua điện thoại di động để thu lời bất chính. Cách thức chơi được quy định: Trước giờ mở thưởng của Xổ số kiến thiết Miền Bắc hằng ngày (tức là trước 18 giờ 15 phút), người mua lô, đề bỏ tiền ra mua các số trong dãy số tự nhiên từ 00 đến 99; mua các số tự nhiên từ 000 đến 999 khi mua số ba càng. Lô xiên hai là hai cặp số tự nhiên hai chữ số, lô xiên ba là ba cặp số tự nhiên hai chữ số, lô xiên bốn là bốn cặp số tự nhiên hai chữ số. Hân bán mỗi một số lô cho người chơi với giá 22.500 đồng/01 điểm hoặc 23.000 đồng/01 điểm; còn số đề, số lô xiên tùy thuộc vào người mua, mua bao nhiêu tiền thì H sẽ bán bằng số tiền của người chơi bỏ ra mua số đề, số lô xiên đó. Nếu số lô trúng là các số lô người chơi đã mua trùng với 02 số cuối của một hoặc tất cả các giải; số đề trúng là số đề đã mua trùng với 02 số cuối của giải đặc biệt. Lô xiên 02 là trùng với 02 số cuối của 02 giải; Lô xiên 03 là trùng với 03 số cuối của 03 giải. Nếu số lô trúng 01 giải thì H phải trả 80.000 đồng/01 điểm, nếu trúng thêm một giải nữa thì tỷ lệ tiền thắng 01 điểm cứ tăng thêm 80.000 đồng. Số đề trúng thì H phải trả số tiền gấp 80 lần số tiền người chơi bỏ ra mua số đề đó. Lô xiên 02, nếu trúng thì H phải trả gấp 10 lần số tiền người chơi bỏ ra mua số lô xiên 2 đó. Lô xiên 3, nếu trúng thì H phải trả gấp 40 lần số tiền người chơi bỏ ra mua số lô xiên 3 đó. Nếu khách thua thì H được hưởng lợi toàn bộ số tiền người chơi bỏ ra mua số lô, số đề trước đó. Sau khi so sánh kết quả, nếu người mua trúng thì người mua số lô, số đề sẽ thanh toán tiền trúng vào ngày hôm sau.
Trong hai ngày 21/12/2023 và ngày 22/12/2023, H đã bán các số lô, số đề cho những người chơi bằng hình thức ghi lại vào 01 quyển sổ màu xanh và nhận qua điện thoại như sau:
Khoảng 15 giờ 22 phút ngày 21/12/2023, Vũ Văn L ở thôn A, xã M, huyện V đến nhà H mua các số lô 23, 32 mỗi số 100 điểm = 200 điểm x 22.500 đồng/01 điểm= 4.500.000 đồng. Tổng số tiền lô L mua của H là: 4.500.000đồng. So sánh với kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng ngày 21/12/2023, L trúng thưởng số lô 23 x 100 điểm = 100 điểm x 80.000 đồng/01điểm = 8.000.000 đồng. Tổng số tiền trúng thưởng là: 8.000.000đồng. Như vậy tổng số tiền L đánh bạc với H là:12.500.000 đồng. H và L đã thanh toán trả xong toàn bộ số tiền đánh bạc nêu trên.
Đến khoảng 16 giờ 15 phút cùng ngày, Nguyễn Xuân Ư ở thôn T, xã M, huyện V đến nhà H mua số lô 43 x 25 điểm = 25 điểm x 22.500 đồng/01 điểm = 562.500 đồng; 09, 90 x 15 điểm = 30 điểm x 22.500 đồng/01 điểm = 675.000 đồng. Số lô xiên hai: 09, 90 = 100.000 đồng. Số đề: 09, 90 x 20.000 đồng = 40.000 đồng. Tổng số tiền lô, đề, Ư mua của H là: 1.377.500 đồng. So sánh kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng cùng ngày, Ư trúng thưởng số lô: 09 x 15 điểm = 15 điểm x 80.000 đồng/01 điểm = 1.200.000 đồng; số lô 90 x 15 điểm, trúng thưởng 03 giải = 15 điểm x 3 x 80.000 đồng/01điểm = 3.600.000 đồng; số lô xiên hai: 09, 90 x 100.000 đồng = 100.000 đồng x 10 = 1.000.000 đồng. Tổng số tiền trúng thưởng là: 5.800.000 đồng. Như vậy tổng số tiền Ư đánh bạc với H là: 7.177.500 đồng. H và Ư đã thanh toán trả xong toàn bộ số tiền đánh bạc nêu trên.
Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn C1 ở thôn A, xã M, huyện V đến nhà H mua số đề: 51, 15, 56, 65, 06, 60, 01, 10 x 5.000 đồng = 40.000 đồng; 22, 27 72, 77 x 10.000 đồng = 40.000 đồng; 03, 30, 08, 80, 58, 85, 35, 53 x 5.000 đồng = 40.000 đồng; 67 x 50.000 đồng = 50.000 đồng; 56 x 60.000 đồng = 60.000 đồng. Số lô: 49 x 5 điểm = 5 điểm x 23.000 đồng/01 điểm = 115.000 đồng. Tổng số tiền lô, đề, C1 mua của H là: 345.000 đồng. So sánh kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng cùng ngày, C1 trúng thưởng số đề 85 x 5.000 đồng = 5.000 đồng x 80.000 đồng = 400.000 đồng; số lô: 49 x 5 điểm = 5 điểm x 80.000 đồng/01điểm = 400.000 đồng. Tổng số tiền trúng thưởng là: 800.000 đồng. Như vậy tổng số tiền C1 đánh bạc với H ngày 21/12/2023 là: 1.145.000 đồng. H và C1 đã thanh toán trả xong toàn bộ tiền đánh bạc nêu trên.
Đến khoảng 15 giờ 05 phút ngày 22/12/2023, Ư tiếp tục đến nhà H mua số lô: 39, 95, 05, 50 x 5 điểm = 20 điểm x 22.500 đồng/01 điểm = 450.000 đồng. Tổng số tiền Ư đánh bạc với H ngày 22/12/2023 là: 450.000 đồng. H và Ư đã thanh toán trả xong toàn bộ tiền đánh bạc nêu trên.
Đến khoảng 15 giờ 25 phút ngày 22/12/2023, Hồ Ngọc Q ở thôn T, xã M, huyện V đến nhà mua của H các số đề: 82, 28, 11, 12, 02, 20 x 20.000 đồng = 120.000 đồng; 52, 25 x 15.000 đồng = 30.000 đồng. Tổng số tiền Q đánh bạc với H là 150.000 đồng. H và Q đã thanh toán trả xong toàn bộ tiền đánh bạc nêu trên.
Đến khoảng 15 giờ 35 phút cùng ngày, Nguyễn Công V ở thôn C, xã M, huyện V đến nhà mua của H các số lô: 68, 84 x 25 điểm = 50 điểm x 22.500 đồng/01 điểm = 1.125.000 đồng; Số đề: 64, 68, 33, 44, 19 x 50.000 đồng = 250.000 đồng. Tổng số tiền V đánh bạc với H là 1.375.000 đồng. H và V đã thanh toán trả xong toàn bộ tiền đánh bạc nêu trên.
Đến khoảng 15 giờ 40 phút cùng ngày, Đoàn Văn K1 ở thôn C, xã M, huyện V đến nhà mua của H số lô: 58, 85 x 3 điểm = 6 điểm x 22.500 đồng/01 điểm = 135.000 đồng; Số đề: 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89 x 13.000 đồng= 130.000đồng; 08, 18, 28, 38, 48, 58, 68, 78, 88, 98 x 13.000 đồng= 130.000đồng; 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49 x 5.000đồng = 50.000đồng; 34, 32, 33, 04, 14, 24, 44 x 5.000 đồng = 35.000đồng; 48, 84, 14, 41, 08 x 10.000đồng = 50.000đồng. Tổng số tiền K1 đánh bạc với H là: 530.000 đồng. H và K1 đã thanh toán trả xong toàn bộ tiền đánh bạc nêu trên.
Đến khoảng 16 giờ 00 phút cùng ngày, Lê Văn S1 ở thôn C, xã M, huyện V sử dụng điện thoại Samsung Galaxy A04e, màu đen bên trong lắp số thuê bao 0981456832 gọi điện thoại đến số thuê bao 0349051792 lắp trong chiếc điện thoại OPPO A17, màu xanh của H để mua các số lô: 48, 84, 58, 79, 22, 44 x 5 điểm = 30 điểm x 22.500 đồng/01 điểm = 675.000 đồng; 97, 29 x 10 điểm = 20 điểm x 22.500 đồng/01 điểm = 450.000 đồng; 79, 97, 90 x 10 điểm = 30 điểm x 22.500 đồng/01 điểm = 675.000 đồng. Số đề: 90, 92 x 10.000 đồng = 20.000 đồng. Số lô xiên 3: 89, 98, 48 = 50.000 đồng; 48, 84, 58 = 50.000 đồng; 88, 89, 98 = 50.000 đồng. Số lô xiên 2: 88, 98= 50.000đồng. Tổng số tiền Sau đánh bạc với H là: 2.020.000 đồng. Sau chưa thanh toán trả số tiền đánh bạc nêu trên cho H.
Đến khoảng 16 giờ 20 phút cùng ngày, Cao Văn C2 ở thôn T, xã M, huyện V đến nhà mua của H mua số lô: 31, 22, 27 x 10 điểm = 30 điểm x 22.500 đồng/01 điểm = 675.000 đồng. Số đề: 34 x 20.000 đồng = 20.000 đồng. Tổng số tiền lô, đề, C2 mua của H là: 695.000 đồng. H và C2 đã thanh toán trả xong toàn bộ tiền đánh bạc nêu trên.
Đến khoảng 17 giờ 05 phút cùng ngày, L tiếp tục đến nhà H mua số lô 06, 60 x 30 điểm = 60 điểm x 22.500 đồng/01 điểm = 1.350.000 đồng và mua các số đề: 57, 69, 97 x 10.000 đồng = 30.000 đồng; 14, 19, 64, 69 x 40.000 đồng = 160.000 đồng. Sau khi mua xong, L đi về nhà. Đến khoảng 17 giờ 45 phút cùng ngày, L và Nguyễn Văn C1 lại đến nhà H để mua các số lô, số đề nhưng chưa kịp mua thì bị Cơ quan CSĐT Công an huyện V phát hiện kiểm tra. Như vậy tổng số tiền L đánh bạc với H ngày 22/12/2023 là: 1.540.000 đồng. Vật chứng: thu giữ của L 02 mảnh giấy dòng kẻ bên trong có ghi chữ và các số tự nhiên bằng mực màu xanh(ký hiệu A1, A2). Thu trên mặt bàn 01 tờ giấy dòng kẻ màu trắng (trên mặt giấy chưa ghi nội dung gì) (ký hiệu A3); 01 chiếc bút nước vỏ màu xanh; thu dưới gầm bàn 01 quyển sổ màu xanh, bên trong sổ có 02 tờ ghi các chữ và các số tự nhiên của hai ngày 21/12/2023 và 22/12/2023(ký hiệu A4, A5). Thu của H số tiền 6.900.000đồng.Thu của C1 số tiền 910.000đồng.
Cùng ngày 22/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện V ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Thị H thu giữ: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO A17, màu xanh, bên trong lắp số thuê bao 0349051792 và 0981795225. Đến ngày 19/01/2024, Lê Văn S1 tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy A04e, màu đen, bên trong lắp số thuê bao 0981456832.
Ngày 28/02/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V có Công văn đề nghị Tập đoàn C3 cung cấp thông tin về chủ chủ thuê bao, IMEI của điện thoại, chi tiết nhật ký các cuộc gọi và tin nhắn của các số thuê bao: 0349051792; 0981795225; 0981456832. Ngày 19/3/2024, Tập đoàn C3 cung cấp: thông tin của số thuê bao 0349051792 và 0981795225 đều đăng ký tên anh Lê Công S2 sinh năm 2003 ở thôn C, xã M, huyện V, tỉnh Hưng Yên (là con ruột của H). Anh S2 xác định năm 2021 sau khi đăng ký hai số thuê bao trên xong thì anh S2 không sử dụng mà cho H sử dụng từ đó đến nay. Còn số thuê bao 0981456832 đăng ký tên anh Lê Văn S1. Anh S2 không biết việc H sử dụng hai số thuê bao trên vào mục đích phạm tội nên không căn cứ để xử lý đối với anh S2.
Đối với vật chứng của vụ án: 01 bút bi nước vỏ màu xanh; 01 điện thoại OPPO A17, màu xanh, bên trong lắp số 0349051792 và 0981795225 và 01 điện thoại Samsung Galaxy A04e, màu đen, bên trong lắp số thuê bao 0981456832 xác định H, Sau sử dụng vào mục đích phạm tội nên Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng để chờ xử lý theo quy định. Đối với số tiền 6.900.000đồng thu của H trong đó có 3.545.000đồng là tiền sử dụng đánh bạc, còn 3.355.000đồng là tiền do H lao động mà có. Đối với số tiền 910.000đồng thu của Nguyễn Văn C1 xác định là tiền do C1 lao động mà có, Cơ quan điều tra nhập vào tài khoản tạm giữ của Công an huyện V tại K huyện V để chờ xử lý theo quy định.
Đối với Nguyễn Văn C1, Hồ Ngọc Q, Nguyễn Công V, Đoàn Văn K1, Cao Văn C2 và Lê Văn S1 đã thực hiện hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền trị giá dưới 5.000.000đồng và đều chưa có tiền án, tiền sự về các hành vi và các tội Đánh bạc, G bạc nên Công an huyện V ra quyết định xử phạt hành chính.
Tại Bản cáo trạng số 52/CT-VKS, ngày 19/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm truy tố bị cáo Phạm Thị H, Vũ Văn L, Nguyễn Xuân Ư về tội Đánh bạc theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng truy tố, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố hành vi phạm tội của các bị cáo như nội dung bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị H, Vũ Văn L, Nguyễn Xuân Ư đều phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Thị H.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Xuân Ư.
Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vũ Văn L.
Xử phạt bị cáo Phạm Thị H từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân Ư từ 09 tháng đến 01 năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Văn L từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.
Giao bị cáo Phạm Thị H, Nguyễn Xuân Ư cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú quản lý, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều lao động tự do, thu nhập không ổn định, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Riêng bị cáo L hình phạt chính áp dụng với bị cáo là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Các biện pháp tư pháp: Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu cho phát mại lấy tiền sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại OPPO A17 màu xanh lắp số 0349051792 và 0981795225 của bị cáo H; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A04e, màu đen, bên trong lắp số thuê bao 0981456832 của anh Lê Văn S1.
Tịch thu cho tiêu hủy 01 bút bi nước vỏ màu xanh.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 3.545.000đ của bị cáo H để sung ngân sách Nhà nước. Trả lại bị cáo H số tiền 3.355.000đ nhưng sẽ cho giữ lại để đảm bảo việc thi hành án.
Truy thu sung ngân sách Nhà nước: bị cáo Phạm Thị H số tiền 9.422.500; bị cáo Vũ Văn L số tiền 9.540.000đ; bị cáo Nguyễn Xuân Ư số tiền 5.800.000đ; anh Lê Văn S1 số tiền 2.020.000đ; anh Nguyễn Văn C1 số tiền 800.000đ.
Trả lại anh Nguyễn Văn C1 số tiền 910.000 đồng nhưng sẽ cho đối trừ với số tiền truy thu.
Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Các quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bản cáo trạng, quyết định đưa vụ án ra xét xử được tống đạt cho các bị cáo đúng pháp luật; việc lấy lời khai những người tham gia tố tụng, hỏi cung bị can đều đảm bảo. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì.
[2] Về nội dung; lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với biên bản vụ việc, lời khai của các bị cáo có trong hồ sơ, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản kiểm tra điện thoại và các chứng cứ khác. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Trong hai ngày 21/12/2023 và 22/12/2023 tại nhà của Phạm Thị H ở thôn C, xã M, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Phạm Thị H đã thực hiện hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức bán số lô, số đề cho Vũ Văn L, Nguyễn Xuân Ư, Nguyễn Văn C1, Hồ Ngọc Q, Nguyễn Công V, Đoàn Văn K1, Cao Văn C2, Lê Văn S1 với tổng số tiền sử dụng đánh bạc là: 27.582.500đồng. (Trong đó: ngày 21/12/2023 là: 20.822.500 đồng; ngày 22/12/2023 là:6.760.000 đồng).Vũ Văn L có tổng số tiền sử dụng đánh bạc được là 14.040.000đồng (trong đó ngày 21/12/2023 là 12.500.000 đồng; ngày 22/12/2023 là 1.540.000 đồng); Nguyễn Xuân Ư có tổng số tiền sử dụng đánh bạc được xác định là 7.627.500đồng( trong đó ngày 21/12/2023 là 7.177.500 đồng; ngày 22/12/2023 là 450.000đồng). Sau đó thì bị Cơ quan CSĐT- Công an huyện V phát hiện cùng toàn bộ vật chứng có liên quan.
Hành vi đánh bạc dưới hình thức mua, bán số lô, số đề như nêu ở trên của các bị cáo đã phạm tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm truy tố các bị cáo với giá trị số tiền đánh bạc theo tội danh và điều luật như Cáo trạng đã viện dẫn là phù hợp pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến an toàn, trật tự công cộng. Các bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức dưới mua, bán số lô, số đề được thua bằng tiền, việc này không những gây mất trật tự trị an xã hội mà còn ảnh hưởng đến kinh tế cá nhân hoặc gia đình người chơi có thể dẫn đến những hậu quả xấu khác chưa thể lường hết được. Các bị cáo đều có đầy đủ năng lực hành vi nhận thức được thực hiện hành vi mua bán số lô, số đề là vi phạm pháp luật, nhưng với động cơ tư lợi nên các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý.
Trong vụ án này có đồng phạm tham gia thực hiện hành vi phạm tội; tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy tính chất đồng phạm giản đơn.
Để đánh giá vai trò các bị cáo trong vụ án trước tiên phải xem xét đến hành vi của bị cáo Phạm Thị H là người trực tiếp bán số lô, số đề cho bị cáo L, Ư và những người liên quan khác; hình thức đánh bạc trực tiếp và sử dụng điện thoại gọi điện trực tiếp để đánh bạc, vì vậy cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội để giáo dục bị cáo và cũng là bài học răn đe các hành vi tương tự khác xảy ra, mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo sẽ cao hơn bị cáo L và Ư. Khi xem xét đánh giá hành vi phạm tội của bị cáo H, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy: bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội nhiều lần theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Nhưng cũng xét đến bị cáo có nhân thân tốt, tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo tích cực hợp tác với cơ quan điều tra để nhanh chóng làm rõ hành vi phạm tội của các bị cáo khác; bị cáo có đơn xin cải tạo tại địa phương, được chính quyền địa phương xác nhận. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểms, t Khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Mặc dù bị cáo phạm tội nhiều lần nhưng các lần phạm tội đều là tội phạm ít nghiêm trọng, bị cáo đã nhiều tuổi, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ phạt, áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương, tạo cơ hội cho bị cáo sửa chữa hành vi phạm pháp luật của mình, để trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.
Tiếp đến là vai trò của bị cáo Vũ Văn L và Nguyễn Nguyễn Xuân Ư đều tham gia đánh bạc tích cực. Tuy nhiên cũng xét thấy hai bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng. Nhân thân hai bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Hai bị cáo đều có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, được chính quyền địa phương xác nhận. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật, áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Ư cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo. Đối với bị cáo L áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền theo quy định tại Điều 35 Bộ luật hình sự thì cũng đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo.
Giao các bị cáo H, Ư cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo thường trú quản lý, giám sát và giáo dục.
[3] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng; vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Riêng bị cáo L hình phạt chính áp dụng với bị cáo là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4] Các biện pháp tư pháp: Về vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ số tiền 6.900.000 đồng của bị cáo H, trong đó có 3.545.000 đồng liên quan đến việc đánh bạc nên sẽ cho tịch thu để sung ngân sách Nhà nước, số tiền còn lại không liên quan đến tội phạm sẽ trả lại bị cáo nhưng sẽ cho giữ lại để đảm bảo việc thi hành án.
Cơ quan điều tra còn thu giữ: 01 điện thoại OPPO A17 màu xanh lắp số 0349051792 và 0981795225 của bị cáo H; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A04e, màu đen, bên trong lắp số thuê bao 0981456832 của anh Lê Văn S1. Đây là những phương tiện để bị cáo H và anh S1 liên lạc thực hiện hành vi đánh bạc nên sẽ cho tịch thu phát mại lấy tiền sung ngân sách Nhà nước.
Hành vi bán số lô, số đề của bị cáo H được hưởng lợi số tiền 9.422.500đ, đây là tiền thu lời bất chính vì vậy sẽ truy thu của bị cáo H số tiền này để sung ngân sách Nhà nước.
Hành vi mua số lô, số đề trúng đã được H thanh toán cho bị cáo L 9.540.000 đồng, Ư 5.800.000đ, Nguyễn Văn C1 800.000đ. Đây là tiền liên quan đến tội phạm nên sẽ truy thu của hai bị cáo số tiền này để sung ngân sách Nhà nước.
Hành vi mua số lô, số đề với số tiền 2.020.000 đồng của anh Lê Văn S1, chưa thanh toán với bị cáo H. Đây là vật chứng liên quan đến tội phạm nên sẽ truy thu của anh S1 số tiền này để sung ngân sách Nhà nước.
Hành vi của anh Nguyễn Văn C1 mua bán số lô, số đề với H trúng đã được thanh toán 800.000đ xác định số tiền này liên quan đến tội phạm nên sẽ truy thu của anh C1 số tiền này để sung ngân sách Nhà nước. Cơ Quan điều tra còn thu của anh Nguyễn Văn C1 số tiền 910.000 đồng số tiền này không liên quan đến tội phạm nên sẽ trả lại anh C1, nhưng sẽ đối trừ với số tiền truy thu trên.
Đối với 01 bút bi nước vỏ màu xanh liên quan đến tội phạm không còn giá trị sử dụng nên sẽ cho tịch thu tiêu hủy.
Đối với các anh Lê Văn S1, Nguyễn Văn C1, Hồ Ngọc Q, Nguyễn Công V, Đoàn Văn K1 và Cao Văn C2 tham gia đánh bạc nhưng số tiền chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an huyện V đã ra quyết định xử lý vi phạm hành chính là phù hợp với quy định của pháp luật.
[5] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Toà án, buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Tuyên bố các bị cáo Phạm Thị H, Vũ Văn L và Nguyễn Xuân Ư đều phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51; Khoản 1, 2, 5 Điều 65; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Thị H.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Xuân Ư.
Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vũ Văn L.
Xử phạt bị cáo Phạm Thị H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân Ư 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Vũ Văn L 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng để sung ngân sách Nhà nước, tiền phạt nộp một lần sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Giao các bị cáo Phạm Thị H và Nguyễn Văn U1 cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện V, tỉnh Hưng Yên nơi các bị cáo cư trú quản lý, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Các biện pháp tư pháp: Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu cho phát mại lấy tiền sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại OPPO A17 màu xanh lắp số 0349051792 và 0981795225 của bị cáo H; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A04e, màu đen, bên trong lắp số thuê bao 0981456832 của anh Lê Văn S1.
Tịch thu cho tiêu hủy 01 bút bi nước vỏ màu xanh.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 3.545.000đ của bị cáo H để sung ngân sách Nhà nước. Trả lại bị cáo H số tiền 3.355.000đ nhưng sẽ cho giữ lại để đảm bảo việc thi hành án.
Truy thu sung ngân sách Nhà nước: bị cáo Phạm Thị H số tiền 9.422.500; bị cáo Vũ Văn L số tiền 9.540.000đ; bị cáo Nguyễn Xuân Ư số tiền 5.800.000đ; anh Lê Văn S1 số tiền 2.020.000đ; Nguyễn Văn C1 số tiền 800.000đ.
Trả lại anh Nguyễn Văn C1 số tiền 910.000 đồng.
Về án phí: Buộc các bị cáo Phạm Thị H, Vũ Văn L và Nguyễn Văn U1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên để xét xử phúc thẩm.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Bích Thủy |
Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 05/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN về hình sự (đánh bạc)
- Số bản án: 60/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Hân và đồng phạm phạm tội Đánh bạc
