Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2024/HS-ST

Ngày 04 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Dương Viết Vĩnh
  2. Bà Vũ Thị Ngọc Phan

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hiếu - Thư ký Tòa án nhân

dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình tham gia

phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Anh - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 7 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 58 /2024/TLST-HS, ngày 03 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: ĐỒNG THỊ MỴ (Tên gọi khác: Không), Sinh năm 1981 tại Thái Nguyên; Nơi thường trú: Xóm Đ, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không có; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đồng Văn Q, sinh năm 1950 và bà Dương Thị Đ, sinh năm 1950; Gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ 05 trong gia đình; Có chồng: Trương Quang T (đã chết); Có 03 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2005; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18/01/2024 đến ngày 02/02/2024 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện nay đang tại ngoại tại địa phương.

(Có mặt tại phiên tòa)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Viết L, sinh năm 1982
    Địa chỉ: TDP A, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên
    (Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt)
  2. Anh Dương Văn C, sinh năm 1983
    Địa chỉ: Xóm P, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên
    (Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt)
  3. Anh Lưu Ngọc Đ1, sinh năm 1985
    Địa chỉ: Xóm B, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên
    (Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt)
  4. Anh Dương Ngọc H, sinh năm 1988
    Địa chỉ: Xóm T, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên
    (Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt)
  5. Ông Nguyễn Hữu S1, sinh năm 1959
    Địa chỉ: Xóm Đ, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên
    (Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Người làm chứng:

  1. Anh Trương Quang M, sinh năm 2003
    Địa chỉ: Xóm Đ, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên
    (Vắng mặt)
  2. Chị Trương Thị T1, sinh năm 2005
    Địa chỉ: Xóm Đ, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
    (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 17 giờ 50 phút ngày 15/01/2024, Đồng Thị M1 đang ở quán bán tạp hóa ở nhà thuộc xóm Đ, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên thì có Nguyễn Hữu S1, đến mua số lô, số đề. Mỵ bán cho ông S1 các số đề 27=25.000 đồng, số 22=25.000 đồng, số 24=10.000 đồng, ông S1 đưa cho M1 một tờ tiền 100.000 đồng, ông S1 cầm cáp đề ở tay còn M1 đang ghi chép các số đề vào một quyển sổ, chưa kịp trả lại tiền thừa cho ông S1 thì Công an xã Đ, huyện P vào kiểm tra phát hiện và lập biên bản sự việc. Quá trình kiểm tra Tổ công tác đã tạm giữ, thu giữ các đồ vật, tài liệu gồm: 01 quyển vở dòng kẻ ngang nhãn hiệu Hải Tiến, bìa màu xanh trắng ghi nhiều chữ và số bằng mực đen, đỏ; 01 tờ giấy dòng kẻ ngang nhãn hiệu Hải Tiến trên các mặt giấy ghi nhiều chữ và số bằng mực bút màu đen, đỏ; 01 chiếc bút bi vỏ màu tím, bên trong bút có ba ngòi mực màu xanh, đen, đỏ; 01 cáp đề của ông Nguyễn Hữu S1; số tiền 100.000 đồng của ông S1 trả cho M1 để mua các số đề. Khi được yêu cầu, M1 đã giao nộp cho tổ công tác các đồ vật, tài liệu liên quan đến việc bán số lô đề gồm: 1.747.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A94 màu xanh đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F1S màu vàng đã qua sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản sự việc, tạm giữ các vật chứng nêu trên theo quy định, đưa Đồng Thị M1 về trụ sở Công an xã làm việc. Sau khi củng cố hồ sơ ban đầu, Công an xã Đ đã chuyển hồ sơ đến Cơ quan CSĐT Công an huyện P để thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.

Tại cơ quan điều tra Đồng Thị M1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Ngoài ra, M1 còn khai nhận cùng ngày 15/01/2024 trước khi bị phát hiện M1 đã bán số lô, số đề cho những người sau: Khoảng 17 giờ 05 phút bán cho Nguyễn Viết L, sinh năm 1982, các số lô tổng là 1.150.000 đồng, L đã trả bằng hình thức chuyển khoản cho M1; Khoảng 17 giờ 13 phút bán cho Dương Văn C, sinh năm 1983, các số lô tổng là 4.600.000 đồng, C đã trả bằng hình thức chuyển khoản cho M1; Khoảng 17 giờ 35 phút bán cho Lưu Ngọc Đ1, sinh năm 1985, các số lô tổng là 2.500.000 đồng, M1 cho Đ1 nợ tiền trả sau; Hồi 17 giờ 34 phút M1 còn bán cho người có tài khoản Zalo “Tiến Kk” số lô, số đề tổng là 1.980.000 đồng, chưa trả tiền cho M1, Mỵ không lưu số điện thoại của người này nên không nhớ số điện thoại; cùng ngày 15/01/2024 M1 cũng bán số lô, số đề cho người có tài khoản Zalo tên “Nguyễn T2” tổng số tiền 300.000 đồng, người này chưa trả tiền cho M1, đây là khách đến uống bia, M1 không lưu số điện thoại và không biết họ tên địa chỉ ở đâu. Quá trình điều tra không xác định được người có tài khoản Zalo tên “Tiến Kk” và “Nguyễn Trọng” đã mua số lô số đề của M1. Trong ngày 15/01/2024 M1 đã chuyển số tiền bán số lô số đề là 7.830.000 đồng cho người có tên Z là “N” để được hưởng 10% tiền hoa hồng, do bản thân Mỵ không đủ khả năng trả thưởng, đây là người đến quán nhà M1 uống bia sau đó có phát sinh các lần giao dịch dịch vụ chuyển tiền nhanh qua tài khoản ngân hàng với M1.

Cũng tại Cơ quan điều tra Mỵ còn khai nhận trước đó, vào ngày 13/01/2024 Mỵ bán số lô số đề tổng số tiền là 1.025.000 đồng, vào ngày 14/01/2024 M1 bán số lô số đề tổng số tiền là 4.658.000 đồng, tuy nhiên không có căn cứ để xác định nhân thân những người mua số lô, số đề của M1.

Tổng số tiền M1 khai nhận bán các số lô, số đề ngày 15/01/2024 cho Nguyễn Hữu S1, Nguyễn Viết L, Dương Văn C và Lưu Ngọc Đ1 tổng cộng là 8.310.000 đồng. Về cách thức bán số lô, số đề, M1 khai nhận: người mua số lô, số đề tự chọn số lô, số đề muốn mua, M1 lấy tiền số đề bằng đúng số tiền mà khác mua, còn số lô Mỵ tính 23.000 đồng bằng một điểm lô, tỷ lệ được thua là 1/80, tỷ lệ được thua đối với số lô xiên 2 là 1/10 (số lô xiên 2 bao gồm 2 số lô thường). Sau khi có kết quả xổ số miền B đối chiếu với số đề thì so với hai số cuối của giải đặc biệt. Nếu trùng với nhau thì nhận 80 lần số tiền mua số đề. Đối với số lô thì so số lô với hai số cuối của 27 giải thưởng xổ số miền B mở thưởng ngày đó, nếu trùng nhau thì trúng thưởng một điểm lô trả thưởng là 80.000 đồng. Đối với lô xiên 2 thì trúng thưởng nhận được số tiền gấp 10 lần số tiền bỏ ra mua số lô xiên 2 đó.

Tiến hành triệu tập để làm việc đối với Nguyễn Hữu S1, Nguyễn Viết L, Dương Văn C và Lưu Ngọc Đ1. Tại Cơ quan điều tra S1, L, C và Đ1 đã khai nhận rõ hành vi mua số lô, số đề của Đồng Thị M1 như nêu trên, lời khai phù hợp với lời khai của M1 cùng tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ. Kết quả điều tra xác định được người có tên Z “Ngọc M2” là Dương Ngọc H, sinh năm 1988. Quá trình làm việc tại Cơ quan điều tra H không thừa nhận việc mua bán số lô, số đề với M1 mà chỉ thừa nhận việc giao dịch chuyển tiền nhanh qua tài khoản với M1 bằng tài khoản ngân hàng. Kết quả thu giữ điện tín đối với số điện thoại 0384.458.xxx mà M1 khai là của H thì xác định chủ thuê bao theo đăng ký mang tên Vi Văn T3, sinh năm 1985, trú tại bản C, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Tiến hành cho M1 đối chất với Dương Ngọc H nhưng H không thừa nhận việc mua bán số lô, số đề với M1.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ Cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ xác định số tiền Đồng Thị M1 bán các số lô, số đề ngày 15/01/2024 như sau: Nguyễn Hữu S1 số tiền 60.000 đồng; Dương Văn C số tiền 4.600.000 đồng; Nguyễn Viết L số tiền 1.150.000 đồng; Lưu Ngọc D số tiền 2.500.000 đồng. Tổng cộng 8.310.000 đồng (Tám triệu ba trăm mười nghìn đồng).

Lời khai nhận tội của Đồng Thị M1 phù hợp với các tài liệu khác thu thập được trong quá trình điều tra như: biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng, người chứng kiến và các tài liệu khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Tại Bản cáo trạng số 61/CT-VKS-PB, ngày 30/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Đồng Thị M1 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình trình bầy lời luận tội và đề nghị với Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Đồng Thị M1 phạm tội “Đánh bạc”.

Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết số 02/2018/NQ – HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, xử phạt bị cáo Đồng Thị M1 từ 18 đến 24 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 48 tháng.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự: Phạt bổ sung bị cáo Đồng Thị M1 từ 10 đến 15 triệu đồng nộp sung quỹ nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47, Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: Số tiền 4.347.000 đồng (Bốn triệu ba trăm bốn mươi bẩy nghìn đồng); 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen đã qua sử dụng, của Dương Văn C; 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus màu đen đã qua sử dụng, của Lưu Ngọc Đ1; 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO 1906 màu xanh đã qua sử dụng, của Nguyễn Viết L; 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A94, màu xanh của Đồng Thị M1; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F1s, màu vàng, đã qua sử dụng của Đồng Thị M1;

- Buộc bị cáo Đồng Thị M1 phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 4.003.000 đồng (Bốn triệu không trăm linh ba nghìn đồng) để sung ngân sách Nhà nước.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) tờ cáp đề của Nguyễn Hữu S1; 01 (Một) chiếc bút bi vỏ màu tím, có 03 ngòi bút, đã qua sử dụng; 01 (Một) chiếc thẻ nhớ.

- Trả lại anh Dương Ngọc H: 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus, màu xám đen đã qua sử dụng của Dương Ngọc H;

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có tranh luận gì. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 15/01/2024 tại quán bán hàng của gia đình thuộc xóm Đ, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Đồng Thị M1 đã có hành vi bán số lô, số đề cho Nguyễn Hữu S1 số tiền 60.000 đồng; Dương Văn C số tiền 4.600.000 đồng; Nguyễn Viết L số tiền 1.150.000 đồng; Lưu Ngọc D số tiền 2.500.000 đồng, tổng cộng số tiền là 8.310.000 đồng (Tám triệu ba trăm mười nghìn đồng), nhằm mục đích kiếm lời.

Ngoài ra, tại Cơ quan điều tra Đồng Thị M1 cũng khai nhận đã từng bán số lô số đề cho một số người khác vào ngày 13/01/2024 tổng số tiền là 1.025.000 đồng, vào ngày 14/01/2024 tổng số tiền là 4.658.000 đồng nhưng không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể của những người này, cũng không thu giữ được số tiền đã bán số lô, số đề. Cơ quan điều tra không có căn cứ xác định nhân thân của những người mua số lô, số đề của M1 vào các ngày 13, 14/01/2024 nên đã không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi bán lô đề vào ngày 13, 14/01/2024 đối với Đồng Thị M1.

Quá trình điều tra xác định hành vi mua số lô, số đề của Nguyễn Hữu S1, Dương Văn C, Nguyễn Viết L, Lưu Ngọc D đều sử dụng số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, bản thân những người trên chưa có tiền án, tiền sự nên không đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” Công an huyện P đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Hữu S1, Dương Văn C, Nguyễn Viết L, Lưu Ngọc D theo quy định.

Như vậy, hành vi Đồng Thị M1 đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề cho Nguyễn Hữu S1, Dương Văn C, Nguyễn Viết L, Lưu Ngọc D với tổng số tiền bán các số lô, số đề trong ngày 15/01/2024 là 8.310.000 đồng đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm, Hội đồng xét xử kết luận bị cáo đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Nội dung Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. ...

3.Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”

[3]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội và nếp sống văn minh của địa phương, là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm hình sự khác, hành vi đó cần phải xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung.

[4]. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i,s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào được quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, có nơi cư trú rõ ràng, được chính quyền địa phương có ý kiến đề nghị xin cho M1 được cải tạo tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết áp dụng biện pháp cải tạo cách ly đối với bị cáo mà có thể áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự cho bị cáo Đồng Thị M1 được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với với bị cáo và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách là cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung và thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật nhà nước ta. Đồng thời cần tuyên rõ hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Từ những căn cứ nêu trên, khi lượng hình Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc xem xét một mức án tương ứng phù hợp với nhân thân, tính chất mức độ tội phạm do bị cáo gây ra.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét hành vi phạm tội của bị cáo nhằm mục đích thu lời bất chính, do đó cần áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo là 10.000.000đ nộp sung công quỹ Nhà nước, theo khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

[6]. Ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Đồng Thị M1, buộc bị cáo không được phép đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 04 tháng 7 năm 2024 cho đến khi bị cáo đi chấp hành án. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú để quản lý, theo dõi.

[7]. Về xử lý vật chứng: Hội đồng xét xử căn cứ Điều 46, Điều 47, 48 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, xử lý vật chứng như sau:

- Đối với vật chứng là số tiền 4.347.000 đồng (Bốn triệu ba trăm bốn mươi bẩy nghìn đồng), (trong đó có 4.307.000 đồng liên quan đến việc phạm tội, còn 40.000 đồng là tài sản của ông Nguyễn Hữu S1 từ chối nhận lại, ông S1 đề nghị tịch thu sung công quỹ nhà nước) do vậy cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước toàn bộ số tiền trên.

- Đối với vật chứng gồm: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen đã qua sử dụng, của Dương Văn C; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus màu đen đã qua sử dụng của Lưu Ngọc Đ1; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO 1906 màu xanh đã qua sử dụng của Nguyễn Viết L; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A94, màu xanh đã qua sử dụng của Đồng Thị M1; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO đã qua sử dụng của Đồng Thị M1 là công cụ, phương tiện liên quan đến việc phạm tội, cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

- Đối với vật chứng gồm: 01 tờ cáp đề của Nguyễn Hữu S1; 01 chiếc bút bi vỏ màu tím, có 03 ngòi bút, đã qua sử dụng; 01 chiếc thẻ nhớ, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Buộc bị cáo Đồng Thị M1 phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 4.003.000 đồng (Bốn triệu không trăm linh ba nghìn đồng) để sung ngân sách Nhà nước.

- Đối với những vật chứng là 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus, màu xám đen đã qua sử dụng của Dương Ngọc H, không phải là phương tiện, công cụ phạm tội còn giá trị sử dụng cần trả lại cho chủ sở hữu là anh Dương Ngọc H quản lý, sử dụng;

[8]. Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với bị cáo như đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, biện pháp cải tạo là phù hợp với quy định của Pháp luật, do đó Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

[9]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[10]. Thông báo quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ, áp dụng pháp luật:

  • - Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết số 02/2018/NQ – HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Điều 46, Điều 47, 48 của Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106, Điều 123, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đồng Thị M1 phạm tội “Đánh bạc”.
  2. Hình phạt chính:

    Xử phạt bị cáo Đồng Thị M1 18 (Mười tám) tháng tù, cho hưởng án treo.

    Thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Đồng Thị M1 cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92, 93 của Luật thi hành án hình sự.

    Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách: Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo (là bị cáo Đồng Thị M1) cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Hình phạt bổ sung (phạt tiền): Phạt bổ sung bị cáo Đồng Thị M1 số tiền là 10.000.000đ (Mười triệu đồng) nộp sung quỹ Nhà nước.
  4. Ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Đồng Thị M1 buộc bị cáo không được phép đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 04 tháng 7 năm 2024 cho đến khi bị cáo đi chấp hành án. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú để quản lý, theo dõi.
  5. Xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:

    - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: Số tiền 4.347.000 đồng (Bốn triệu ba trăm bốn mươi bẩy nghìn đồng); 01 (Một) Bì thư niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu ĐT1, bên trong có chứa 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen đã qua sử dụng, số Imei 1: 867090 (sáu số cuối), số Imei 2: 867082 (sáu số cuối) của Dương Văn C; 01 (Một) Bì thư niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu ĐT2, bên trong có chứa 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus màu đen đã qua sử dụng, số Imei: 666767 (sáu số cuối) của Lưu Ngọc Đ1; 01 (Một) Bì thư niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu ĐT3, bên trong có chứa 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO 1906 màu xanh đã qua sử dụng, số Imei 1: 107597 (sáu số cuối), số Imei 2: 107589 (sáu số cuối) của Nguyễn Viết L; 01 (Một) Bì thư niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu KM, bên trong có chứa 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A94, màu xanh, số IMEI1: 863271055676590; số IMEI 2: 86327105567582 đã qua sử dụng của Đồng Thị M1; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F1s, màu vàng, số IMEI1: 863897037252652; số IMEI2: 863897037252645 đã qua sử dụng của Đồng Thị M1;

    - Buộc bị cáo Đồng Thị M1 phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 4.003.000 đồng (Bốn triệu không trăm linh ba nghìn đồng) để sung ngân sách Nhà nước.

    - Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) Bì thư niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu G, bên trong bì thư có chứa 01 tờ cáp đề của Nguyễn Hữu S1; 01 (Một) Bì thư niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu B, bên trong có chứa 01 chiếc bút bi vỏ màu tím, có 03 ngòi bút, đã qua sử dụng; 01 (Một) Bì thư niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu KT, bên trong có chứa 01 chiếc thẻ nhớ.

    - Trả lại anh Dương Ngọc H: 01 (Một) Bì thư niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu NH, bên trong có chứa 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus, màu xám đen, số IMEI: 355729076654305 đã qua sử dụng của Dương Ngọc H;

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/6/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra của Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình và Ủy nhiệm chi chuyển khoản, chuyển tiền điện tử số 126 ngày 07 tháng 6 năm 2024 giữa đơn vị trả tiền Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên và đơn vị nhận tiền Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên).

  6. Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.
  7. Thông báo quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật ./.
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Thủy
Nơi nhận:
  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKS ND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKS ND huyện Phú Bình;
  • - Cơ quan điều tra CA huyện Phú Bình;
  • - CQTHAHS Công an huyện Phú Bình;
  • - CC T.H.A DS huyện Phú Bình;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Lưu: HS, VP, T.H.A HS.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về đánh bạc (gambling)

  • Số bản án: 60/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc (Gambling)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger