|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 60/2024/HNGĐ-ST Ngày: 04-6-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lương Bằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Bùi Tấn Dũng.
- Ông Nguyễn Tuấn Lam.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Tưởng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự tham gia phiên toà: Ông Trần Thái Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 77/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2024, về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2024/QĐXX-ST ngày 03 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị B, sinh ngày 26 tháng 02 năm 1978; Nơi cư trú: Ấp CT, xã BP, huyện TH, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Anh Phan Văn L, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Ấp BHT, xã TTH A, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp.
(Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 04 tháng 3 năm 2024 và bản khai ngày 03 tháng 5 năm 2024 của nguyên đơn chị Nguyễn Thị B trình bày: Vào năm 2004, chị và anh Phan Văn L thương yêu nhau và về sống chung với nhau không có tổ chức đám cưới, chị và anh L có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã BP, huyện TH vào ngày 27 tháng 02 năm 2007. Lúc đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc và có được 03 con chung, nhưng nhiều năm sau thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm nhiều vấn đề trong cuộc sống và đã không còn sống chung với nhau từ năm 2016 cho đến nay. Nay nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không hàn gắn tình cảm được nữa, mục đích hôn nhân không đạt, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh L. Về nuôi con chung: Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung Phan Nguyễn Ben C, sinh ngày 16 tháng 02 năm 2012 và Phan Nguyễn Duy D, sinh ngày 26 tháng 02 năm 2015, không yêu cầu anh Phan Văn L cấp dưỡng nuôi con, còn đối với Phan Thị Thùy V, sinh ngày 13 tháng 11 năm 2005 đã trưởng thành, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với anh Phan Văn L đã được Toà án triệu tập để hòa giải và xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh từ chối không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải và xét xử.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị B được ly hôn với anh Phan Văn L; về nuôi con chung: Giao 02 con chung Phan Nguyễn Ben C, sinh ngày 16 tháng 02 năm 2012 và Phan Nguyễn Duy D, sinh ngày 26 tháng 02 năm 2015 cho chị Nguyễn Thị B tiếp tục nuôi dưỡng, anh Phan Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con do chị B không có yêu cầu, còn cháu Phan Thị Thùy V, sinh ngày 13 tháng 11 năm 2005 đã trưởng thành, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Viện kiểm sát không đề cập giải quyết; về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị B trình bày không có, còn anh Phan Văn L không có văn bản ghi ý kiến, nên Viện kiểm sát không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Đây là vụ kiện tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[2] Nguyên đơn chị Nguyễn Thị B có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Phan Văn L đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị B và anh Phan Văn L là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn và hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Xét yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị B đối với anh Phan Văn L, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo trình bày của chị Nguyễn Thị B thì cuộc sống của chị và anh Phan Văn L không còn hạnh phúc từ năm 2021 do vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm nhiều vấn đề trong cuộc sống và đã không còn sống chung với nhau từ năm 2016 cho đến nay. Từ đó, có thể nhận thấy rằng mối quan hệ vợ chồng của chị B và anh L hoàn toàn không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Như vậy, xét thấy yêu cầu ly hôn của chị B là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, nên chấp nhận cho chị Nguyễn Thị B ly hôn với anh Phan Văn L.
[4] Về việc nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị B yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung Phan Nguyễn Ben C, sinh ngày 16 tháng 02 năm 2012 và Phan Nguyễn Duy D, sinh ngày 26 tháng 02 năm 2015, không yêu cầu anh Phan Văn L cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi chị B và anh L không còn sống chung và hiện nay thì 02 con chung do chị B chăm sóc, nuôi dưỡng, nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị B được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, anh L không phải cấp dưỡng nuôi con do chị B không có yêu cầu và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát. Đối với cháu Phan Thị Thùy V, sinh ngày 13 tháng 11 năm 2005 đã trưởng thành, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị B cho rằng không có, nên không yêu cầu giải quyết, còn anh Phan Văn L không gửi văn bản ghi ý kiến của mình để Tòa án xem xét, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
[6] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc đương sự phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 229, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 53, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị B, cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị B và anh Phan Văn L.
- Về việc nuôi con chung:
- Chị Nguyễn Thị B được tiếp tục chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng 02 con chung Phan Nguyễn Ben C, sinh ngày 16 tháng 02 năm 2012 và Phan Nguyễn Duy D, sinh ngày 26 tháng 02 năm 2015.
- Anh Phan Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị B chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004725 ngày 05 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Lương Bằng |
Bản án số 60/2024/HNGĐ-ST ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 60/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị B yêu cầu ly hôn với anh L
