Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SÌN HỒ

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 60/2024/HSST.

Ngày: 02/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Mạnh Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vàng A Măng; Ông Hoàng Việt Bắc

Thư ký phiên toà: Hờ A Thái, Thư ký Toà án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Phùng Văn Chử, Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 60/2024/TLST - HS, ngày 24 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2024/QĐXXST –HS, ngày 22 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Lò Văn L - Sinh năm: 1997; Sinh tại: T, tỉnh Sơn La. Nơi thường trú: bản Púng, xã P, huyện T, tỉnh Sơn La; Nơi ở hiện tại: bản N, xã P, huyện S, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Đoàn, Đảng: không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Lò Văn Ó – Sinh năm: 1950; Con bà: Lò Thị P – Sinh năm: 1950; Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/3/2024 đến nay - Có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng: Lò Văn D – Sinh năm: 1996; trú tại: bản P, xã P, huyện T, tỉnh Sơn La – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN;

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ ngày 10/3/2024, Lò Văn L rủ Lò Văn D xống trung tâm xã P, huyện S để mua đồ dùng sinh hoạt cá nhân, D đồng ý. Lò Văn D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại WINNER, BKS 26 M1 -18563 chở L đến trung tâm xã P, huyện S, tỉnh Lai Châu. Khi D chở L đi được một đoạn đường, thì L bảo D dừng xe để đi vệ sinh, L đi vào một lán ruộng đã bỏ hoang gần đường thì gặp một người đàn ông khỏng 30 tuổi. Qua trao đổi, L mua được của người này 01 gói Heroine được bằng 02 lớp ni lon màu xanh (bên trong có 04 gói nhỏ đều gói bằng ni lon màu xanh) với giá 300.000 đồng, L cất giấu gói Heroine vào trong túi quần bên phải đang mặc. Mua được H, L đi ra chỗ D đang đợi rồi bảo D quay trở về lán công trình tại bản Nậm Tần Mông 2, xã P, huyện S, tỉnh Lai Châu. Đến 22 giờ cùng ngày, khi D và L đi đến khu vực thuộc đường liên bản thuộc bản Pa Tần 1, xã P, huyện S, tỉnh Lai Châu thì bị tổ công tác Đồn biên phòng P1 phát hiện, thu giữ trong túi quần bên phải của L 01 gói, được gói bằng 02 mảnh ni lon màu xanh, bên trong có chứa 04 gói chất bột, màu trắng, theo lời khai của L, đây là Heroine của L, L mua về để sử dụng (hít).

Qua xác định khối lượng và giám định chất ma túy, tại kết luận giám định tư pháp số 76, ngày 11/3/2024 của người giám định theo vụ việc, đã xác định 04 gói chất bột màu trắng thu giữ của Lò Văn L có tổng khối lượng là 0,37 gam. Tại bản Kết luận giám định số: 298/GĐ-KTHS, ngày 12/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: 04 mẫu chất bột màu trắng (ký hiệu từ M1 đến M4) thu giữ của Lò Văn L gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine.

Cáo trạng số: 37/CT- VKS, ngày 21 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Lò Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lò Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lò Văn L từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 08 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo.

Về vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 46, khoản 1 Điều 47 BLHS, khoản 2 Điều Điều 106 BLTTTHS: Tịch thu tiêu hủy 06 mảnh nilon màu xanh.

Về án phí hình sự sơ thẩm, đề nghị xem xét theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn L khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố, lời khai của bị cáo phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu trong hồ sơ vụ án. Bị cáo nhất trí luận tội và đề nghị của kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận, không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN;

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an huyện S, tỉnh Lai Châu, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu và Điều tra viên, Kiểm sát viên được phân công điều tra, truy tố, trong quá trình thực hiện đã tuân thủ đúng theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[ 2 ] Về hành vi phạm tội của bị cáo nhận thấy: Vào hồi 22 giờ 00 phút, ngày 10/3/2024, tại đường liên bản thuộc bản P, xã P, huyện S, tỉnh Lai Châu, Tổ công tác Đồn Biên phòng P1 – Bộ Chỉ huy, Bộ đội Biên phòng tỉnh L đã phát hiện bắt quả tang Lò Văn L đang có hành vi tàng trữ trái phép 04 gói Heroine có tổng khối lượng 0,37 gam. Lò Văn L tàng trữ 0,37 gam Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân (hít). Như vậy, khẳng định hành vi tàng trữ trái phép 0,37 gam Heroine của Lò Văn L với mục đích để sử dụng đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Do vậy, Cáo trạng số: 37/CT – VKS, ngày 21 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ truy tố đối với Lò Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[ 3 ] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhận thấy, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ việc tàng trữ trái phép Heroine để sử dụng là vi phạm pháp luật, nhưng vì bản thân bị cáo là người nghiện chất ma túy, nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện, bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào chính sách độc quyền về quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Do vậy, cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, xử phạt tù đối với bị cáo để dăn đe, giáo dục đối với bị cáo và cũng là để phòng, chống các loại tội phạm, đặc biệt là các tội phạm về ma túy tại địa phương. Tuy nhiên, khi xem xét mức hình phạt cần phải xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo là người nghiện chất ma túy.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS cần được áp dụng cho bị cáo; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, bố bị cáo là ông Lò Văn Ó là người có công cách mạng được tặng thưởng “Huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhì”, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS cần được áp dụng cho bị cáo.

[ 4 ] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và tại phiên tòa, xét thấy, bị cáo có nghề nghiệp lao động tự do, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có điều kiện thi hành, Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với người đàn ông khoảng 30 tuổi đã bán H cho L, L không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, nên không có căn cứ để điều tra, xác minh xử lý được đối với người này. Đối với lò Văn D1 là người điều khiển mô tô chở L đi mua đồ dùng sinh hoạt, nhưng khi đi mua Heroine và khi mua được Heroine L1 không cho D1 biết, nên không xử lý đối với D1 là đúng quy định pháp luật.

[ 5 ] Về vật chứng: Đối với 06 mảnh ni lon màu xanh, đây là công cụ dùng vào việc phạm tội cần phải tịch thu tiêu hủy.

[ 6 ] Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lò Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, Hội đồng xét xử cần phải chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH;

Áp dụng Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Lò Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lò Văn L 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 10/03/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy gồm: 06 mảnh ni lon màu xanh (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện S, tỉnh Lai Châu và Chi cục thi hành án dân sự huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu ngày 10/7/2024).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Lò Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai, có mặt bị cáo, bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án lên Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu để xem xét theo thủ tục phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - Công an huyện Sìn Hồ;
  • - VKSND huyện Sìn Hồ;
  • - Thi hành án hình sự CA huyện Sìn Hồ;
  • - Thi hành án dân sự huyện Sìn Hồ;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

(Signature space)

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2024/HSST ngày 02/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 60/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng 22 giờ ngày 10/3/2024 Đồn biên phòng P, huyện S, tỉnh L Đồn Biên phòng xa P đã bắt quả tang Lò Văn L đang có hành vi tàng trữ trái phép 0, 37 gam Heroine để sử dụng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger