TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 60/2024/HS-ST
Ngày 01- 8-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Tấn Đồng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Phẩm
Ông Lê Thành Tam
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Bảo, là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Thái Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2024/HS-ST ngày 06 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Hữu L
, sinh ngày 19 tháng 3 năm 1963 tại huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Nơi cư trú ấp C, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn) lớp 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; Tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Q (chết) và bà Lê Thị C (chết); có vợ là Lê Thị T và 02 con, lớn nhất sinh năm 2010 và nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án: không, tiền sự: không; nhân thân: Chưa có án tích, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật; bị cáo tại ngoại (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Ngọc T1 – Luật sư Công ty L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh V (có mặt).
- Bị hại: Nguyễn Thị Bích T2, sinh năm 1993; nơi thường trú Ấp E, xã P, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; chổ ở hiện nay ấp C, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Lê Thị T, sinh năm 1972; địa chỉ cư trú ấp C, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
- Võ Thị T3, sinh năm 1972; địa chỉ cư trú ấp C, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
- Người làm chứng:
- Võ Thị S, sinh năm 1966; địa chỉ cư trú ấp C, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
- Võ Đại C1, sinh năm 1982; địa chỉ cư trú ấp C, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc khoảng 07 giờ, ngày 11/11/2023, bị cáo Nguyễn Hữu L cùng với vợ là bà Lê Thị T đi gặp và kêu anh Võ Đại C1 nhổ cây Dừa trồng trên phần đất tranh chấp, cặp đường Tỉnh lộ 902 đem về phần đất của anh C1 trồng, anh C1 không đồng ý, nên L dùng tay nhổ cây Dừa lên và đem để bên phần đất của anh C1. Thấy vậy, anh C1 đi qua nhà của bà Võ Thị T3 (là cô ruột của C1) báo cho bà T3 biết sự việc trên (do phần đất này anh C1 đã bán cho bà T3 và các cây trồng trên là do bà T3 kêu anh C1 trồng), bà Tiếng n với anh C1 “mầy về đi tao đi theo liền” nên anh C1 đi về. Sau đó, bà T3 đi đến phần đất tranh chấp gặp bà T đang đứng, bà T nhìn thấy bà T3 và nói “bà không có liên quan gì trong miếng đất này hết” thì giữa hai bên xảy ra cự cãi với nhau, bà T3 xông vào dùng tay phải đánh vào vùng mặt của bà T, bà T bỏ chạy về nhà, vừa chạy vừa kêu ông L. Lúc này khoảng 08 giờ cùng ngày, chị Nguyễn Thị Bích T2 (là con ruột của bà T3) đang ở nhà của bà T3 nghe tiếng cự cãi thì chạy đến cùng với bà T3 rượt theo bà T, còn L đang dùng cây xà ben tự chế bằng kim loại màu đen, hình trụ tròn dài 70cm (cán hình trụ tròn bằng kim loại rỗng ruột dài 15,5cm; thân dài 45,5cm), mũi bằng có rãnh 05cm, trọng lượng 800 gam, đào đất để trồng cọc đá thì nghe thấy nên chạy ra.
Khi bà T3 và T2 rượt theo bà T chạy tới mái che trước nhà của vợ chồng L, lúc này L chạy đến can ngăn đẩy hai bên ra cách nhau khoảng 1,5 mét, L trên tay cầm cây xà ben và nói “bây vào nhà tao, tao không nhịn à”, thì T2 tiếp tục xông vào đánh bà T, ông L cầm cây xà ben bằng tay phải quơ ngang từ phải sang trái theo hướng đứng của L, trúng vào hai bên cẳng tay (trái và phải) của T2 gây thương tích. Sau đó T2 được anh C1 đưa đến Trạm y tế xã M để sơ cứu và gia đình tiếp tục đưa T2 đến Bệnh viện Đ (Cần Thơ) để điều trị và về trong ngày. Đến ngày 13/11/2023, T2 làm đơn yêu cầu giám định tỷ lệ thương tật và khởi tố vụ án hình sự đối với bị cáo L.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 368/KLTTCT-TTPY, ngày 21/12/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh V. Kết luận đối với Nguyễn Thị Bích T2 như sau:
1. Các kết quả chính:
- - Vết thương cẳng tay trái khoảng 4 cm do vật sắc gây nên, hiện tại sẹo kích thước 3,5x0,5 cm, không di chứng cố tật. Tỷ lệ: 02%.
- - Vết thương cẳng tay phải khoảng 3 cm do vật sắc gây nên, hiện tại sẹo kích thước 4x0,2 cm, không di chứng cố tật. Tỷ lệ: 02%.
2. Kết luận:
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thị Bích T2 tại thời điểm giám định là: 04% (Bốn phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
Ngày 05/3/2024, bị cáo Nguyễn Hữu L bị khởi tố về tội “Cố ý gây thương tích và ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.
Về vật chứng của vụ án: 01 (một) cây xà ben tự chế bằng kim loại màu đen, hình trụ tròn dài 70cm (cán hình trụ tròn bằng kim loại rỗng ruột dài 15,5cm; thân dài 45,5cm), mũi bằng có rãnh 05cm, trọng lượng 800 gam. Cơ quan điều tra đã chứng minh đây là tài sản thuộc quyền sở hữu của bị cáo L. Đây là công cụ để thực hiện hành vi phạm tội nên tiếp tục tạm giữ chờ xử lý.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:
Hiện nay bị hại T2 yêu cầu bị cáo L bồi thường tiền thuốc, tiền xe, tiền chi phí nuôi dưỡng trong thời gian điều trị và tiền tổn thất tinh thần với tổng số tiền là 22.315.000 đồng. Với yêu cầu trên bị cáo chỉ đồng ý bồi thường những khoản tiền có chứng từ hợp lệ và đã bồi thường được số tiền 3.000.000 đồng (nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mang Thít).
Đối với hành vi của bà T3 dùng tay đánh bà T nhưng không có gây thương tích và bà T cũng không có yêu cầu xử lý nên không xem xét.
Riêng về việc bị cáo L yêu cầu xem xét hành vi xâm phạm chỗ ở của bà T3 và T2, do sự việc xảy ra ở khu vực mái che trước nhà của bị cáo L và trong lúc hai bên có xảy ra cự cãi, xô xát với nhau và hành vi của hai mẹ con bị hại cũng không có gây thiệt hại gì về tài sản cho gia đình của bị cáo L nên không đủ cơ sở để xử lý về tội “Xâm phạm chỗ ở của người khác”.
Tại Cáo trạng số: 41/CT-VKS.HMT ngày 05 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít truy tố bị cáo Nguyễn Hữu L phạm tội: Cố ý gây thương tích, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung Cáo trạng và đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; Điều 47; các điểm b, i, s, x khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; các Điều 106 và Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; các Điều 584 và Điều 590 của Bộ luật dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 14 và Điều 23 của Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án. Đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu L phạm tội: Cố ý gây thương tích và đề nghị xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo; về trách nhiệm bồi thường thiệt hại chấp nhận một phần yêu cầu của bị hại, buộc bị cáo có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại tổng số tiền là 13.220.000 đồng, bị cáo đã bồi thường được số tiền 3.000.000 đồng nên buộc bị cáo phải bồi thường tiếp số tiền còn lại là 10.220.000 đồng; về vật chứng đề nghị tịch thu tiêu hủy và về án phí miễn án phí cho bị cáo, bị hại không phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo xác định do bị cáo tinh thần bị kích động mạnh nên mới đánh và gây thương tích cho bị hại nên đề nghị tuyên bị cáo không phạm tội. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại đồng ý với đề nghị của Viện kiểm sát.
Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất với quan điểm bào chữa của người bào chữa cho bị cáo và không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng bị cáo không nói gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, tỉnh Vĩnh Long, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Hữu L khai nhận: Vào khoảng 08 giờ, ngày 11/11/2023, tại mái che trước sân nhà của bị cáo L, thuộc: ấp C, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long, giữa vợ của bị cáo là bà T và phía bị hại là T2 và bà T3 có xảy ra xô xác với nhau.Thấy vậy L chạy đến can ngăn đẩy hai bên ra cách nhau khoảng 1,5 mét, L trên tay cầm cây xà ben và nói “bây vào nhà tao, tao không nhịn à”, thì T2 tiếp tục xông vào đánh bà T. Lúc này bị cáo L đã dùng tay phải cầm 01 cây xà ben tự chế bằng kim loại màu đen, hình trụ tròn dài 70cm (cán hình trụ tròn bằng kim loại rỗng ruột dài 15,5cm; thân dài 45,5cm), mũi bằng có rãnh 05cm, trọng lượng 800 gam, là hung khí nguy hiểm quơ ngang 01 (một) cái theo hướng từ phải sang trái trúng vào cẳng tay trái và cẳng tay phải của bị hại T2 gây thương tích tỷ lệ là 04%
Xét; lời khai của bị cáo là phù hợp với nội dung cáo trạng và lời buộc tội của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết quả giám định và phù hợp với các chứng cứ khác đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận: Nguyễn Hữu L phạm tội: Cố ý gây thương tích, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến khách thể được luật hình bảo vệ, đó là sức khỏe của người khác. Hành vi phạm tội của bị cáo không những vi phạm pháp luật mà còn gây bất bình trong xã hội, làm mất trật tự ở địa phương. Đi ngược lại chủ trương của Đảng và Nhà nước về cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư. Vì thế cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên, xét bị cáo sau khi phạm đã thành khẩn khai báo, đã bồi thường được một phần thiệt hại, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo là người có công với cách mạng và bị hại cũng có một phần lỗi. Nên xem đây là các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
[3] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Hiện nay, bị hại T2 yêu cầu bị cáo L bồi thường tiền thuốc, tiền xe, tiền chi phí nuôi dưỡng trong thời gian điều trị và tiền tổn thất tinh thần với tổng số tiền là 22.315.000 đồng. Với yêu cầu của bị hại thì bị cáo chỉ đồng ý bồi thường các khoản tiền có chứng từ. Xét việc bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại là có căn cứ. Tuy nhiên, những khoản thiệt hại mà bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường là chưa phù hợp nên Tòa án chỉ chấp nhận những khoản sau đây: Tiền thuốc + Tiêm ngừa 5.120.000 đồng; tiền xe 1.200.000 đồng; tiền ăn bồi dưỡng điều trị bệnh 100.000 đồng/ngày x 15 ngày = 1.500.000 đồng và tiền tồn thất tinh thần 03 tháng x 1.800.000 đồng = 5.400.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại lả 13.220.000 đồng. Bị cáo đã bồi thường được số tiền 3.000.000 đồng (nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mang Thít) nên buộc bị cáo có nghĩa vụ bồi thường tiếp số tiền còn lại là 10.220.000 đồng.
[4] Về vật chứng: 01 (một) cây xà ben tự chế bằng kim loại màu đen, hình trụ tròn dài 70cm (cán hình trụ tròn bằng kim loại rỗng ruột dài 15,5cm; thân dài 45,5cm), mũi bằng có rãnh 05cm, trọng lượng 800 gam là tài sản thuộc quyền sở hữu của bị cáo L. Xét đây là công cụ để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.
[5] Xét việc người bào chữa cho bị cáo cho rằng do tinh thần của bị cáo bị kích động mạnh nên bị cáo mới đánh và gây thương tích cho bị hại và đề nghị tuyên bị cáo không phạm tội là không có căn cứ chấp nhận. Bởi, lúc đầu giữa vợ của bị cáo và phía bị hại xảy ra xô xác với nhau thì bị cáo đã có hành động can ngăn hai bên ra. Sau đó bị cáo còn nói và cảnh báo với phía bị hại “bây vào nhà tao, tao không nhịn à” nhưng bị hại vẫn tiếp tục xô xác với vợ của bị cáo và bị cáo đã đánh bị hại. Như vậy, trước khi đánh bị hại thì bị cáo đã can ngăn hai bên ra và đã cảnh báo (có ý định) với bị hại là sẽ đánh bị hại nếu bị hại tiếp tục xô xác với vợ của bị cáo. Điều này cho thấy khi bị cáo đánh bị hại thì tinh thần của bị cáo là bình thường, hoàn toàn không bị kích động mạnh.
[6] Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.
[7] Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi và là người có công với cách mạng và có đơn đề nghị miễn án phí nên được miễn án phí hình sư sơ thẩm và dân sự sơ thẩm. Bị hại không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134; Điều 47; các điểm b, i, s, x khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 1 khoản 2 và khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; các Điều 106 và Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; các Điều 584 và Điều 590 của Bộ luật dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 14 và Điều 23 của Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu L phạm tội: Cố ý gây thương tích.
- Phạt bị cáo Nguyễn Hữu L 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, với 01 (một) năm thử thách. Thời hạn thử thách tính từ ngày 01/8/2024
- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Buộc bị cáo Nguyễn Hữu L có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị Bích T2 số tiền là 13.220.000 đồng (mười ba triệu hai trăm ha chục ngàn đồng); bị cáo đã bồi thường được số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) (nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít, theo biên lai thu tiền số 0002928 ngày 10/7/2024) nên buộc bị cáo có nghĩa vụ phải bồi thường tiếp số tiền còn lại là 10.220.000 đồng (mười triệu hai trăm hai chục ngàn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về vật chứng:
- Án phí sơ thẩm:
Giao bị cáo Nguyễn Hữu L cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long để giám sát giáo dục.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Nguyễn Hữu L thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây xà ben tự chế bằng kim loại màu đen, hình trụ tròn dài 70cm (cán hình trụ tròn bằng kim loại rỗng ruột dài 15,5cm; thân dài 45,5cm), mũi bằng có rãnh 05cm, trọng lượng 800 gam.
(Vật chứng trên hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít đang quản lý, theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/6/2024).
4.1 Miễn án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Hữu L.
4.2 Bị hại Nguyễn Thị Bích T2 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định, được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được quy định theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Báo cho biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Trương Tấn Đồng |
Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 01/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG về cố ý gây thương tích (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 60/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cố ý gây thương tích
