|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 60/2024/HNGĐ-ST Ngày 01 - 8 - 2024 V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn giữa bà T và ông M |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Diệp Song Tiền
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Trần Văn Nĩnh
Bà Nguyễn Thị Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An.
Ngày 01 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 100/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phan Thị Phương T, sinh năm 1982 (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện Châu Thành, tỉnh Long An.
- Bị đơn: Ông Bùi Trung M, sinh năm 1981 (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 05 tháng 3 năm 2024 và quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Phan Thị Thương Thúy trình bày:
Bà và ông Bùi Trung M chung sống và đăng ký kết hôn với nhau vào năm 2006 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Long An, chung sống hạnh phúc khoảng 16 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau, thường xuyên cãi nhau, ông M không quan tâm đến sức khỏe, tình cảm của bà. Bà T cho rằng tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc, không thể kéo dài hôn nhân nên bà T yêu cầu ly hôn với ông Bùi Trung M.
Trong quá trình chung sống giữa bà và ông Bùi Trung M có một người con chung tên là Bùi Phước S, sinh ngày 06 tháng 12 năm 2006, hiện đang sống chung nhà với bà và ông M. Bà T yêu cầu Tòa án giải quyết giao người con chung cho bà nuôi dưỡng, bà không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con chung. Đồng thời, bà T xác định: Về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết và cam kết không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Bùi Trung M trình bày:
Ông và bà Phan Thị Phương T chung sống và đăng ký kết hôn với nhau vào năm 2006 tại Ủy ban nhân dân xã Thanh Phú Long, huyện Châu Thành, tỉnh Long An, chung sống hạnh phúc, gần đây vợ chồng có cãi nhau nhưng không có việc gì lớn nên ông không đồng ý ly hôn với bà Phan Thị Phương T.
Về con chung: Hôn nhân giữa ông với bà T có một người con chung tên là Bùi Phước S, sinh ngày 06 tháng 12 năm 2006, hiện đang sống chung nhà với bà và ông M.
Về tài sản chung và nợ chung: Do ông không đồng ý ly hôn nên về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án tiếp tục thông báo hòa giải vào ngày 24 tháng 6 năm 2024 nhưng ông Bùi Trung M vắng mặt. Bà Phan Thị Phương T có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.
Tại bản tự khai ngày 24 tháng 6 năm 2024, người con chung có tên Bùi Phước S xác định: Khi cha mẹ cháu là bà Phan Thị Phương T và ông Bùi Trung M ly hôn thì cháu có nguyện vọng sống cùng với mẹ cháu là bà Phan Thị Phương T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện của bà Phan Thị Phương T và nơi cư trú của ông Bùi Trung M, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành thụ lý và giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2] Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Bùi Trung M đến tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm nhiều lần nhưng ông Bùi Trung M vắng mặt không rõ lý do. Còn bà T có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự, xét xử vụ án vắng mặt ông Bùi Trung M, bà Phan Thị Phương T.
[3] Bà Phan Thị Phương T và ông Bùi Trung M đăng ký kết hôn với nhau vào năm 2006 tại Ủy ban nhân dân xã Thanh Phú Long, huyện Châu Thành, tỉnh Long An nên quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông M là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.
Tòa án đã tiến hành hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng giữa bà Phan Thị Phương T và ông Bùi Trung M vào ngày 09 tháng 5 năm 2024 nhưng không thành, Tòa án tiếp tục tiến hành hòa giải vào ngày 24 tháng 6 nhưng ông M vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được. Bà T xác định bà không còn tình cảm với ông M, bà T giữ nguyên nguyện vọng yêu cầu ly hôn với ông M. Từ đó, cho thấy mâu thuẫn giữa bà T và ông M đã trầm trọng không thể hàn gắn, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, việc bà Phan Thị Phương T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Bùi Trung M là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Hôn nhân giữa bà Phan Thị Phương T và ông Bùi Trung M có một người con chung tên là Bùi Phước S, sinh ngày 06 tháng 12 năm 2006, hiện đang sinh sống cùng nhà với bà T. Xét thấy người con chung đã hơn bảy tuổi, có nguyện vọng sống cùng bà T. Bà T yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Giao cho bà Phan Thị Phương T được quyền trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục người con chung có tên Bùi Phước S, sinh ngày 06 tháng 12 năm 2006, bà T không yêu cầu cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Về nợ chung và tài sản chung: Bà Phan Thị Phương T xác định về tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết và cam kết không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp giữa các đương sự có phát sinh tranh chấp thì có quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo quy định chung của pháp luật.
[6] Về án phí: Ông Bùi Trung M không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Bà Phan Thị Phương T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm với số tiền là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), bà T đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) được trừ án phí sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Áp dụng Điều 56 và Điều 58 của Luật hôn nhân và gia đình;
- - Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của bà Phan Thị Phương T về việc xin ly hôn với ông Bùi Trung M.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị Phương T được ly hôn với ông Bùi Trung M.
- Về con chung: Bà Phan Thị Phương T được quyền trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục người con chung có tên là Bùi Phước S, sinh ngày 06 tháng 12 năm 2006, hiện đang sống cùng với bà T.
Ông Bùi Trung M có quyền, nghĩa vụ thăm nom người con chung có tên là Bùi Phước S, sinh ngày 06 tháng 12 năm 2006, bà T cùng các thành viên của gia đình không ai được cản trở. Ông M thực hiện quyền, nghĩa vụ thăm nom con phải thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp, người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của người con chung, khi có căn cứ thì bà T, ông M hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật có quyền yêu cầu Tòa án quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con; khi có lý do chính đáng thì bà T, ông M có quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
- Về án phí: Ông Bùi Trung M không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Bà Phan Thị Phương T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm với số tiền là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), bà T đã nộp tiền tạm ứng án phí với số tiền là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0008709 ngày 18 tháng 3 năm 2024 của cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành tỉnh Long An được trừ án phí sơ thẩm.
- Về kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Diệp Song Tiền |
Bản án số 60/2024/HNGĐ-ST ngày 01/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 60/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Thị Phương T ly hôn Bùi Trung M
