|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN TỈNH VĨNH LONG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Kim Ngân
Các Hội thẩm nhân dân.
1. Ông Trần Ngọc Đức
2. Ông Nguyễn Văn Sáu
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Điền - là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Mẫn - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 60/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2025; về tranh chấp: “ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2025/QĐXX-ST ngày 02 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Ân Thị Hồng Q, sinh năm 1975. Địa chỉ: tổ A, ấp H, xã N, huyện B, tỉnh Vĩnh Long (xin vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1972. Địa chỉ: tổ A, ấp H, xã N, huyện B, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/4/2025 nguyên đơn bà Ân Thị Hồng Q trình bày: Bà và ông Nguyễn Văn V cưới nhau vào năm 2000. Hôn nhân do quen biết tìm hiểu nhau, sau đó được sự chấp thuận của gia đình hai bên tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, đăng ký kết hôn ngày 29/12/2003 tại UBND xã M, thành phố L, tỉnh An Giang. Sau khi cưới, vợ chồng về sống chung tại ấp H, xã N, huyện B, tỉnh Vĩnh Long. Có 02 con chung: Nguyễn Thùy L, sinh ngày 11/8/2003 đã trưởng thành; Nguyễn Mỹ N, sinh ngày 24/5/2009 hiện sống với vợ chồng bà. Trong thời gian chung sống, vợ chồng không thiếu nợ ai và cũng không cho ai mượn nợ; tài sản chung: vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết. Trong quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc; về sau phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm dẫn đến thường gây gổ với nhau. Vợ chồng đã nhiều lần cố gắng khuyên bảo lẫn nhau thay đổi để hàn gắn tình cảm nhưng đều không thành từ đó đời sống vợ chồng không hạnh phúc. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, bà yêu cầu giải quyết được ly hôn ông Nguyễn Văn V; Về con chung: Nguyễn Thùy L, sinh ngày 11/8/2003 đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết; Nguyễn Mỹ N, sinh ngày 24/5/2009, bà yêu cầu được quyền nuôi con, không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con; Về quan hệ tài sản: không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra bà không còn yêu cầu nào khác.
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 02/6/2025 bị đơn ông Nguyễn Văn V trình bày: Ông và bà Ân Thị Hồng Q cưới nhau vào năm 2000. Hôn nhân do quen biết tìm hiểu nhau trước, sau đó được sự chấp thuận của gia đình hai bên tổ chức lễ cưới theo phong tục tại địa phương; đăng ký kết hôn ngày 29/12/2003 tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Có 02 con chung: Nguyễn Thùy L, sinh ngày 11/8/2003 đã trưởng thành; Nguyễn Mỹ N, sinh ngày 24/5/2009 hiện sống chung với vợ chồng ông. Trong thời gian sống chung, vợ chồng tạo lập được tài sản chung, gồm có: 01 căn nhà 01 trệt, 01 lầu ngang 4,5m x dài 16m cột bê tông cốt thép, vách xây tường, mái lợp tol, nền gạch men xây dựng trên đất của vợ chồng mua vào 2019, đất tọa lạc ở ấp H, xã N, huyện B, tỉnh Vĩnh Long; hiện vợ chồng đang quản lý, sử dụng. Nợ chung: vợ chồng ông có nợ ông T (ở quận C) số tiền 400.000.000 đồng. Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn vào khoảng tháng 4/2024 là do bà Q mượn nợ dùm người khác, ông và bà Q không thống nhất được quan điểm; kinh tế gia đình khó khăn nên dẫn đến vợ chồng gây gỗ, cự cãi nhau; có 01 lần ông dùng tay đánh vào mặt bà Q. Ông xác định hiện vẫn còn thương vợ. Nay theo yêu cầu khởi kiện của bà Q; ông có ý kiến như sau: Về quan hệ hôn nhân: ông không đồng ý ly hôn bà Q, ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho vợ chồng đoàn tụ.
Trong trường hợp Tòa án giải quyết cho bà Q được ly hôn: Về con chung: Nguyễn Thùy L, sinh ngày 11/8/2003 đã trưởng thành; Nguyễn Mỹ N, sinh ngày 24/5/2009 ông yêu cầu giải quyết theo nguyện vọng của con; Mỹ N có nguyện vọng sống với mẹ, ông đồng ý bà Q tiếp tục nuôi, ông không cấp dưỡng nuôi con; Về quan hệ tài sản (tài sản chung, nợ chung): tự thỏa thuận, không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết. Ngoài ra ông không yêu cầu nào khác.
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 28/4/2025 cháu Nguyễn Mỹ N trình bày: cha cháu là ông Nguyễn Văn V, mẹ cháu là bà Ân Thị Hồng Q; cha mẹ cháu ly hôn, cháu có nguyện vọng sống với mẹ.
Tại phiên tòa: ông Nguyễn Văn V không đồng ý ly hôn; yêu cầu Tòa án xử bác yêu cầu của bà Ân Thị Hồng Q để vợ chồng có thời gian giải quyết nợ và chia tài sản chung; Trong trường hợp Tòa án giải quyết cho bà Q được ly hôn: Về con chung: Nguyễn Mỹ N, sinh ngày 24/5/2009 ông yêu cầu giải quyết theo nguyện vọng của con; Về quan hệ tài sản: ông và bà Q tự thỏa thuận.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
+ Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao “Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình”.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Ân Thị Hồng Q. Về quan hệ hôn nhân: bà Q được ly hôn ông Nguyễn Văn V; Về con chung: giao cháu Nguyễn Mỹ N, sinh ngày 24/5/2009 cho bà Q được tiếp tục nuôi dưỡng, ông V không phải cấp dưỡng nuôi con; Về quan hệ tài sản: không tranh chấp, nên không đặt ra xem xét giải quyết; Về án phí buộc bà Q phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Bà Ân Thị Hồng Q có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Văn V, ông V có nơi cư trú thuộc huyện B nên tranh chấp và quan hệ pháp luật thuộc thẩm quyền thụ lý và giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Tân được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Bà Ân Thị Hồng Q có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đương sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Ân Thị Hồng Q và ông Nguyễn Văn V tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên hôn nhân giữa ông bà là hợp pháp, được pháp luật công nhận.
Xét yêu cầu xin ly hôn của bà Q là có cơ sở. Bởi lẽ quá trình chung sống ông bà bất đồng quan điểm với nhau, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không còn hạnh phúc. Ông bà đã không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng phải thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Hiện mỗi người đều có cuộc sống riêng không còn quan tâm đến nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà Q xác định không còn tình cảm vợ chồng ông V, bà yêu cầu được ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Q được ly hôn ông V là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.2] Về con chung:
Nguyễn Thùy L, sinh ngày 11/8/2003 đã trưởng thành, các đương sự không yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Nguyễn Mỹ N, sinh ngày 24/5/2009: bà Q yêu cầu được quyền nuôi con, ông V yêu cầu giải quyết theo nguyện vọng của con, cháu Mỹ N có nguyện vọng sống với mẹ. Do đó Hội đồng xét xử xem xét giao con cho bà Q tiếp tục nuôi dưỡng là có căn cứ theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Theo quy định của pháp luật thì người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, tuy nhiên bà Q không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[2.3] Về chia tài sản: Bà Ân Thị Hồng Q và ông Nguyễn Văn V không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[3] Về án phí: Bà Ân Thị Hồng Q phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[4] Xét đề nghị của Kiểm sát viên có căn cứ nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 9, 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ân Thị Hồng Q.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Ân Thị Hồng Q và ông Nguyễn Văn V.
2. Về con chung:
2.1. Nguyễn Thùy L, sinh ngày 11/8/2003 đã trưởng thành, không đặt ra xem xét giải quyết.
Giao con chung Nguyễn Mỹ N, sinh ngày 24/5/2009 cho bà Ân Thị Hồng Q tiếp tục nuôi dưỡng.
2.2. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Ân Thị Hồng Q không yêu cầu ông Nguyễn Văn V cấp dưỡng nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Ông Nguyễn Văn V có nghĩa vụ tôn trọng quyền của cháu Nguyễn Mỹ N được sống chung với bà Ân Thị Hồng Q.
Ông Nguyễn Văn V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình; đồng thời người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về chia tài sản: Bà Ân Thị Hồng Q và ông Nguyễn Văn V không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Bà Ân Thị Hồng Q phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) do bà Q nộp theo biên lai thu số 0000318 ngày 15/4/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Tân. Vậy bà Q đã nộp đủ.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Đương sự có mặt được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
THẨM PHÁN |
THẨM PHÁN |
|
Nơi nhận:
|
Phan Kim Ngân |
Bản án số 60/2025/TLST-HNGĐ ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN, TỈNH VĨNH LONG về ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 60/2025/TLST-HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Ân Thị Hồng Quyên ly hôn với anh Nguyễn Văn Vũ. Con chung: 01 con đã trưởng thành, 01 con giao cho chị Quyên nuôi, không xem xét về việc cấp dưỡng nuôi con, do không có yêu cầu. Quan hệ tài sản: Không tranh chấp. Án phí: Chị Quyên chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng.
