Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MƯỜNG TÈ

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2025/HSST

Ngày: 27/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Pờ Pó Chừ; bà Lý Thị The .

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tuấn- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tham gia phiên tòa:

Bà Giàng Thị Dơ- Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở UBND xã K, huyện M, Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai lưu động vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 58/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Lý Cà L, sinh năm 1982, tại huyện M, tỉnh Lai Châu.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản N, xã B, huyện M, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Y sĩ; Trình độ văn hoá: 12/12; Chức vụ đoàn thể, chính quyền: Đảng viên Đ; Quyết định đình chỉ sinh hoạt đảng số 158-QĐ/UBKTHU ngày 10/10/2024 của Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy M; Dân tộc: La Hủ; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lý Lỳ T (đã chết) và con bà Vàng Phu X, sinh năm 1942; Bị cáo có vợ: Vàng G, sinh năm 1992 (đã ly hôn) và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2013; Tiền án: Không, tiền sự: Ngày 26/01/2024 bị UBND xã B, huyện M xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/9/2024, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện M, tỉnh Lai Châu đến nay có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Công H- Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. Có mặt tại phiên tòa.

1

Người làm chứng: Ông Ky Cha H1, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Bản P, xã B, huyện M, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 30/9/2024, sau khi ăn cơm trưa tại nhà Phùng V ở bản P, xã B, huyện M, tỉnh Lai Châu, Lý Cà L điều khiển xe máy về Trạm y tế xã B để làm việc. Trên đường về, L vào nhà Ky Cha H1, sinh năm 1985, trú tại bản Phìn Khò, xã B, huyện M (là người quen của L) để nhờ H1 đi mua hộ ma tuý về sử dụng, nhưng H1 không đồng ý. Khi L chuẩn bị ra về thì gặp một người thanh niên lạ mặt. Qua trò chuyện, L đã nhờ người thanh niên này đi mua hộ được 01 gói Heroine (gói bằng mảnh nilon màu trắng) với giá 100.000 đồng. Nhận được gói H2, L gỡ bỏ lớp nilon bên ngoài rồi cho vào mảnh giấy bạc lấy từ trong bao thuốc lá của L. Sau đó, L đến vị trí cạnh đống củi trong nhà Ky Cha H1 rồi dùng chiếc bật lửa gas màu xanh mang theo, đốt số Heroine vừa nhờ mua được lên và sử dụng bằng hình thức hít nhưng không sử dụng hết. Số Heroine còn lại trong mảnh giấy bạc, L để xuống nền đất, phía bên trái cạnh vị trí L đang ngồi, rồi lấy thuốc lá ra hút.

Hồi 15 giờ 30 phút cùng ngày, khi L đang ngồi hút thuốc lá trong nhà Ky Cha H1 thì bị tổ công tác Công an xã B đến phát hiện bắt quả tang. Thu giữ số Heroine còn lại trong mảnh giấy bạc tại vị trí L đang ngồi và chiếc bật lửa gas màu xanh mà L vừa dùng để sử dụng ma túy.

Tại kết luận giám định số 118/KLGĐ ngày 30/9/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc Công an huyện M, tỉnh Lai Châu kết luận: 01 mẫu chất bột khô, màu trắng thu giữ của Lý Cà L có khối lượng là 0,12 gam.

Tại kết luận giám định số 1124/KL-KTHS ngày 04/10/2024 của Phòng K - Công an tỉnh L kết luận: 01 mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine.

Tại bản cáo trạng số 15/CT- VKS-MT ngày 20/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè truy tố bị cáo Lý Cà L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lý Cà L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, điểm v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Lý Cà L từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 10 tháng tù, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

2

Xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: 01 bật lửa gas màu xanh; 01 mảnh giấy bạc (đã qua sử dụng) và 01 phong bì công văn màu trắng do Công an xã B phát hành, các mép được dán kín đã bị cắt một đầu.

Đề nghị tịch thu bán hóa giá sung quỹ Nhà nước 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave alpha, màu sơn trắng - đen, biển kiểm soát 25AM - 010.77.

Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng, nội dung bản luận tội. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s, điểm v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xem xét cho bị cáo mức hình phạt thấp nhất trong khung hình phạt và xin miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm và miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Đề nghị trả lại cho bị cáo chiếc xe máy.

Bị cáo nhất trí với bản cáo trạng của Viện kiểm sát, bản luận cứ bào chữa của người bào chữa và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án thấp hơn mức đề nghị của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng bị cáo xin được hưởng mức án thấp hơn trong khoảng đề nghị của Viện kiểm sát.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện M, tỉnh Lai Châu- Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu- Kiểm sát viên; Người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp.

[2] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên Tòa và trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi

3

phạm tội của mình. Lời nhận tội phù hợp với lời khai nhận tội tại cơ quan điều tra, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, kết luận giám định về chất ma túy, các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Tòa án đã có đủ căn cứ kết luận: Hồi 15 giờ 30 phút ngày 30/9/2024, tại bản P, xã B, huyện M, tỉnh Lai Châu, Lý Cà L đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,12 gam Heroine để sử dụng, thì bị Công an xã B phát hiện, bắt quả tang. Do đó hành vi của bị cáo Lý Cà L đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Hành vi nêu trên của bị cáo Lý Cà L là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến khách thể được pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ, đó là chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và biết rõ hành vi phạm tội của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo không những trực tiếp hủy hoại sức khỏe con người, làm suy thoái giống nòi, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia mà còn là nguyên nhân chủ yếu làm gia tăng tội phạm khác.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Quá trình công tác bị cáo được Chủ tịch UBND tỉnh L tặng Bằng khen do có nhiều thành tích trong sự nghiệp y tế, nên cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, điểm v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: 01 tiền sự: Tại Quyết định xử lý vi phạm hành chính số 63/QĐ-XLVPHC ngày 26/01/2024 của UBND xã B, huyện M xử phạt bị cáo 1.500.000 đồng về hành vi: Sử dụng trái phép chất ma túy. Đến ngày 26/01/2024 bị cáo đã thi hành Quyết định xử phạt, tính đến thời điểm phạm tội bị cáo chưa được xóa tiền sự.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội và nhân thân của bị cáo về hành vi phạm tội của mình, Hội đồng xét xử xét thấy cần có một mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội đồng thời để nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân, đảm bảo công tác phòng ngừa chung cho xã hội. Do đó mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là hoàn toàn phù hợp, cần chấp nhận.

4

Người bào chữa và bị cáo đề nghị xem xét cho bị cáo mức án thấp nhất trong khung hình phạt, đề nghị trả lại chiếc xe máy. Hội đồng xét xử nhận thấy tại Quyết định số 63/QĐ-XLVPHC ngày 26/01/2024 bị UBND xã B, huyện M xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chưa được xóa tiền sự, nên đề nghị của người bào chữa và bị cáo xem xét với mức án thấp nhất trong khung hình phạt là chưa tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử không chấp nhận. Đối với chiếc xe máy, quá trình điều tra bị cáo khai nhận đã tự đi đến nhà Ky Cha H1 để nhờ mua hộ Heroine. Khi đến nhà H1, do H1 không đi mua hộ Heroine nên bị cáo đã nhờ một người đàn ông lạ mặt và đưa xe cho người đàn ông đó đi mua hộ H2, nên chiếc xe là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội, nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước. Đề nghị của người bào chữa và bị cáo Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Người bào chữa đề nghị xin miễn án phí hình sự sơ thẩm, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo là phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo thì bị cáo nghiện ma túy, không có tài sản để đảm bảo thi hành án nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về nguồn gốc ma túy thu giữ trong vụ án: Lý Cà Ly khai đã mua của người đàn ông lạ mặt với giá 100.000 đồng. Tuy nhiên, ngoài lời khai duy nhất của Lý Cà L, không có tài liệu hay chứng cứ nào khác để điều tra, xác minh xử lý người đàn ông trên trong cùng vụ án. Hội đồng xét xử chấp nhận và không đề cập giải quyết.

[6] Đối với Ky Cha H1: Quá trình điều tra xác định L không thuê, không mượn địa điểm nhà H1 để sử dụng ma túy. Việc L sử dụng ma túy H1 không biết. Do đó không xem xét trách nhiệm của Ky Cha Hừ về hành vi chưa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, Hội đồng xét xử chấp nhận và không đề cập giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng: Vật chứng còn lại 01 bật lửa gas màu xanh; 01 mảnh giấy bạc (đã qua sử dụng) và 01 phong bì công văn màu trắng do Công an xã B phát hành, các mép được dán kín đã bị cắt một đầu. Đây là vật không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave alpha, màu sơn trắng - đen, biển kiểm soát 25AM - 010.77. Đây là phương tiện dùng vào việc phạm tội, cần tịch thu bán hóa giá sung quỹ Nhà nước

[8] Án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa

5

án. Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

[9] Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s, điểm v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố bị cáo Lý Cà L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Xử phạt bị cáo Lý Cà L 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/9/2024.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  3. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bật lửa gas màu xanh; 01 mảnh giấy bạc (đã qua sử dụng) và 01 phong bì công văn màu trắng do Công an xã B phát hành, các mép được dán kín đã bị cắt một đầu.
  4. Tịch thu bán hóa giá, sung quỹ Nhà nước 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave alpha, màu sơn trắng - đen, biển kiểm soát 25AM - 010.77.

  5. Án phí HSST: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
  6. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lai Châu (01);
  • - VKS ND tỉnh Lai Châu (01);
  • - VKSND huyện Mường Tè (01);
  • - Công an huyện + THAHS (02);
  • - THADS huyện (01);
  • - Bị cáo; Người bào chữa (02);
  • - Lưu HSVA (01);
  • - Lưu TA

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Bình

6

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

7

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2025/HSST ngày 27/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 60/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ...
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger