|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG Bản án số: 60/2025/HS-ST Ngày: 27/5/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Hợp
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lã Văn Luật
2. Ông Luân Văn Lý
Thư ký phiên tòa: Bà Nông Triệu Bảo Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Trường Long - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 47/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2025/QĐXXST-HS ngày 16/5/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị G; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 02 tháng 01 năm 1999 tại huyện Y, tỉnh Tuyên Quang; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: thôn C, xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền đoàn thể): Không; Trình độ học vấn: 07/12 phổ thông; Con ông: Nguyễn Văn A - sinh năm 1977; Con bà: Nguyễn Thị B - sinh năm 1978 (Cùng trú tại: thôn C, xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang); Có 03 chị em, bị cáo là con thứ 02 trong gia đình; Chồng: Trần Huỳnh Đ, sinh năm 1999 (trú tại: xóm C, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa); Có 06 con, con thứ nhất sinh năm 2016, con thứ 6 sinh năm 2024.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ 25/12/2024 đến nay; Có mặt tại phiên tòa
Bị hại: Nguyễn Khánh L - sinh năm 2005
Địa chỉ: tổ B, phường D, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 01/11/2024, Công an thành phố C tiếp nhận đơn trình báo của Nguyễn Khánh L (sinh ngày: 14/6/2005; trú tại: tổ B, phường D, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) về việc ngày 15/9/2024, Nguyễn Thị G (sinh ngày: 02/01/1999; trú tại: thôn C, xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang) mua với L 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro nhưng không trả tiền. Sau đó L đã nhiều lần yêu cầu G trả tiền nhưng G không thực hiện.
Ngày 04/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C ra yêu cầu định giá tài sản số 2078 xác định giá trị chiếc điện thoại di động. Tại bản kết luận định giá tài sản số 71 ngày 06/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản kết luận: "Giá trị tài sản là 8.166.666,đ (tám triệu một trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đồng)."
Quá trình điều tra xác định: Ngày 15/9/2024, Nguyễn Khánh L sử dụng tài khoản mạng xã hội facebook có tên "Nguyễn L" đăng bán 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 pro màu trắng. Nguyễn Thị G thấy bài đăng của L, mặc dù bản thân không có việc làm và thu nhập, không có tiền mua điện thoại nhưng vẫn hỏi mua chiếc điện thoại của L để chiếm đoạt. G sử dụng tại khoản facebook có tên "Sói Không Ăn Thịt" để hỏi mua chiếc điện thoại trên với giá 8.400.000,đ (tám triệu bốn trăm nghìn đồng) và thỏa thuận sau khi nhận được điện thoại sẽ thanh toán tiền. L đồng ý và nói gửi hàng qua bưu điện, thanh toán tiền khi nhận hàng (COD) thì G đề nghị gửi qua xe khách cho nhanh. Sau đó, L gửi chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 pro màu trắng cho G qua nhà xe Tiến Đạt chạy tuyến Cao Bằng - Tuyên Quang. Ngày 16/9/2024, G nhận được chiếc điện thoại của L gửi và sử dụng đến ngày 15/10/2024 G bán chiếc điện thoại đó cho một cửa hàng điện thoại ở thành phố T, tỉnh Thái Nguyên với giá 6.800.000,đ (sáu triệu tám trăm nghìn đồng) lấy tiền chi tiêu cá nhân. Sau đó L nhiều lần yêu cầu G trả tiền mua điện thoại nhưng G không trả và đưa ra nhiều lý do. L yêu cầu G gửi trả điện thoại nhưng G không thực hiện nên đã trình báo cơ quan Công an.
Hành vi của Nguyễn Thị G đã bị cơ quan công an lập hồ sơ, đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại bản Cáo trạng số: 47/CT-VKSTP ngày 01/4/2025 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Nguyễn Thị G về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị G thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo khai L có quan hệ thông gia với anh rể bị cáo, thời điểm L đăng bán điện thoại bị cáo không có tiền nhưng đã dùng Facebook của chồng liên hệ với L mua điện thoại Iphone 12 pro màu trắng giá 8.400.000,đ (tám triệu bốn trăm nghìn đồng) và đề nghị bị hại gửi điện thoại qua xe khách cho bị cáo, khi nhận được điện thoại bị cáo nói chưa nhận được, sau đó lại bán cho chiếc điện thoại đó cho một cửa hàng điện thoại ở thành phố T, tỉnh Thái Nguyên với giá 6.800.000,đ (sáu triệu tám trăm nghìn đồng) để chi tiêu cá nhân. Hiện bị cáo đã chuyển khoản 04 lần để trả 8.400.000,đ (tám triệu bốn trăm nghìn đồng) cho bị hại.
Bị hại Nguyễn Khánh L có đơn xin xét xử vắng mặt, đề nghị về hình phạt xét xử theo quy định của pháp luật, về trách nhiệm dân sự đã nhận đủ 8.400.000đ, không có yêu cầu khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, nhận định bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, khắc phục hậu quả. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, i, n, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị G phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, có ấn định thời gian thử thách.
Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận; khi được nói lời sau cùng, bị cáo trình bày hiện đang nuôi con nhỏ xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1]. Về các tài liệu chứng cứ đã thu thập trog hồ sơ và các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu chứng cứ đã thu thập, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2]. Về tội danh: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung đơn trình báo, lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 15/9/2024, Nguyễn Thị G biết rõ bản thân không có khả năng thanh toán nhưng đã dùng Facebook của chồng để trao đổi với Nguyễn Khánh L để mua 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone 12 Pro với giá 8.400.000,đ, qua định giá là 8.166.666đ (tám triệu một trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đồng) và yêu cầu L gửi qua xe khách. Sau khi nhận được điện thoại G nói chưa nhận được, khi L hỏi lái xe nói đã đưa G vẫn không trả tiền, L yêu cầu trả lại điện thoại G không trả mà sử dụng đến ngày 15/10/2024 thì bán chiếc điện thoại đó lấy tiền chi tiêu cá nhân.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ bản thân không có khả năng thanh toán nhưng đã cung cấp thông tin không đúng sự thật để mua điện thoại rồi đưa ra nhiều lý do để không trả tiền, không trả lại điện thoại, sau đó bán điện thoại lấy tiền chi tiêu cá nhân. Bị cáo biết việc đưa ra thông tin giao dối để L giao điện thoại cho sử dụng rồi đem bán là vi phạm pháp luật nhưng vì đua đòi và cần tiền nên vẫn thực hiện với lỗi cố ý, chiếm đoạt chiếc điện thoại có giá trị 8.166.666đ (tám triệu một trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đồng).
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật.
- [3] Xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo lợi dụng mối quan hệ xã hội với bị hại, đưa ra thông tin không đúng thực tế để được giao tài sản là chiếc điện thoại rồi chiếm đoạt là vi phạm đạo đức, trái pháp luật và nguy hiểm cho xã hội, mặc dù bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng cũng cần phải xử lý nghiêm khắc.
- [4] Về khung hình phạt bị truy tố: Bị cáo có hành vi lừa đảo chiếm đoạt chiếm đoạt chiếc điện thoại có giá trị 8.166.666đ (tám triệu một trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đồng) nên bị truy tố, xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.
- [5]. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tại thời điểm phạm tội bị cáo không có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt. Trong quá trình điều tra bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi sự việc xảy ra đã chủ động bồi thường, khắc phục hậu quả với số tiền đã thỏa thuận khi mua điện thoại là 8.400.000,đ (tám triệu bốn trăm nghìn đồng); Thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là phụ nữ có thai nên được hưởng 04 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, n, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- [6]. Về hình phạt chính: Căn cứ vào nhân thân của bị cáo; tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, có khả năng tự cải tạo, hoàn cảnh bị cáo đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi nên không nhất thiết phải áp dụng hình phạt tù mà có căn cứ cho hưởng án treo, cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật để bị cáo có điều kiện tự cải tạo và chăm sóc nuôi dạy các con.
- [7]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, đang nuôi con nhỏ nên không áp dụng.
- [8]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Khánh L đã nhận đủ số tiền 8.400.000₫ do bị cáo bồi thường qua chuyển khoản vào các ngày 24/11/2024, 30/11/2024, 07/12/2024, 13/12/2024 là cao hơn giá trị tài sản theo kết luận định giá (8.166.666đ) là có lợi cho bị hại, không có yêu cầu khác nên Tòa án không giải quyết.
- [9] Các ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tại phiên tòa là đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
- [10] Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ nhà nước.
- [11]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ: khoản 1 Điều 174; điểm b, i, n, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận bị hại Nguyễn Khánh L đã nhận đủ số tiền 8.400.000 đồng không có yêu cầu khác, Tòa án không giải quyết.
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị G phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị G 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Thị G cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Nguyễn Thị G thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo Nguyễn Thị G phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ nhà nước.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bị hại Nguyễn Khánh L vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Hợp |
Bản án số 60/2025/HS-ST ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 60/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - Nguyễn Thị G
