|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU Bản án số 60/2025/HS-ST Ngày 26 tháng 5 năm 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Phương Bình.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Trường Hận – Bí thư xã Hiệp Thành, thành phố Bạc Liêu.
- Ông Trần Phạm Hoàng Long – Cán bộ Thành đoàn thành phố Bạc Liêu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Minh Hùng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Hồ Hải Đăng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 32/2025/TLHS-ST ngày 17 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 04 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Kim Pi S, sinh ngày 10/5/1998, tại Bạc Liêu; Giới tính: Nam. Nơi cư trú: ấp C, xã H, huyện V, tỉnh Bạc Liêu. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Khmer. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm thuê. Trình độ học vấn: 08/12. Con ông Kim X, sinh năm 1963 và bà Uôi C, sinh năm 1959. Anh, chị, em ruột: 05 người; lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 2001.
- Tiền án: 01 lần. Ngày 27/5/2022, bị xử phạt 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 12/2022/HS-ST của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu, chấp hành xong ngày 11/01/2023 tại Trại giam B2 - Trà Vinh.
- Nhân thân: Ngày 07/9/2016, bị xử phạt 07 tháng tù giam về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án số 23/HSST của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu, đã chấp hành xong và được xóa án tích.
- Tiền sự: 03 lần, cụ thể:
- + Ngày 04/4/2023, bị Công an thành phố B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự”, với mức phạt là 6.500.000 đồng, chưa chấp hành đóng phạt.
- + Ngày 06/7/2023, bị Công an xã H, huyện V, tỉnh Bạc Liêu ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tổ chức, xúi giục, lôi kéo người khác cố ý xâm phạm danh dự, nhân phẩm của người khác”, với mức phạt là 2.500.000 đồng, chưa chấp hành đóng phạt.
- + Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 11/2024/QĐ-TA ngày 04/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu với thời hạn là 18 tháng.
Bị cáo Kim Pi S đang chấp hành cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bạc Liêu. (Có mặt)
2. Họ và tên: Nguyễn Thanh P, sinh ngày 14/8/2006, tại Bạc Liêu; Giới tính: Nam. Nơi cư trú: Khóm A, Phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm thuê. Trình độ học vấn: 01/12. Con ông Nguyễn Chí T, sinh năm 1986 và bà Trần Thùy D, sinh năm 1986. Anh, chị, em ruột: 04 người; lớn nhất bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2016. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân:
- + Ngày 22/12/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu tuyên phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, theo Bản án số 191/2023/HS-ST, hiện đang chấp hành.
Bị cáo Nguyễn Thanh P đang chấp hành án tại Trại giam L, Bộ C2 (được trích xuất về Nhà tạm giữ Công an thành phố B (Phân Trại tạm giam khu vực thành phố B để phục vụ điều tra). (Có mặt).
3. Họ và tên: Lâm Chí K (Tên gọi khác: N3), sinh ngày 16/6/2004, tại Bạc Liêu; Giới tính: Nam. Nơi cư trú: Số B, Khóm A, Phường H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm thuê. Trình độ học vấn: 3/12. Con ông Lâm Ngọc Đ, sinh năm 1976 và bà Ngô Ngọc T1, sinh năm 1981. Anh, chị, em ruột: 03 người; lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2015. Tiền án: Không.
- - Tiền sự: Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 56/QĐ-TA ngày 29/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bạc với thời hạn là 12 tháng.
Bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam K1 – Bộ C2. (Có mặt).
4. Họ và tên: Long Minh T2 (Tên gọi khác: M), sinh ngày 31/01/2004, tại Bạc Liêu; Giới tính: Nam. Nơi cư trú: Ấp T, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 08/12. Con ông Long Minh T3, sinh năm 1975 và bà Đặng Thị B, sinh năm 1975. Vợ: Mai Thanh T4, sinh năm 2006; Có 01 người con là Long Chí N, sinh năm 2023. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo Long Minh T2 tại ngoại cho đến nay. (Có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thanh P: Ông Châu Phi Đ1 – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước. (Có mặt).
* Bị hại: Vương Hồng P1, sinh ngày 15/9/2003
Nơi ở hiện tại: Số G, đường N, Khóm A, Phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. (Có mặt).
Vương Hồng P1 uỷ quyền cho ông Vương Hồng C1, sinh ngày 01/01/1982 (Nơi ở hiện tại: Số G, đường N, Khóm A, Phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu). (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 02 giờ, ngày 24 tháng 01 năm 2024, tại quán cà phê 1991, đường N, Khóm B, Phường E, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, các bị cáo Kim Pi S, Nguyễn Thanh P, Lâm Chí K và Long Minh T2 có hành vi dùng cây chỉa và dao tự chế bằng kim loại, nón bảo hiểm, ly thủy tinh đâm, chém và đánh anh Vương Hồng P1 gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể theo giám định là 18%.
Tại Cáo trạng số 34/ CT-VKS-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu đã truy tố các bị cáo Kim Pi S, Nguyễn Thanh P, Lâm Chí K và Long Minh T2 về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà có quan điểm không thay đổi so với bản Cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo; trong đó bị cáo Kim Pi S đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý và xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội. Tuy nhiên, cũng cần xem xét các bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo T2 khắc phục một phần thiệt hại. Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố các bị cáo Kim Pi S, Nguyễn Thanh P, Lâm Chí K và Long Minh T2 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- - Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h, o khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Kim Pi S. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Kim Pi S mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 38, 58, 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự và Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên đối với bị cáo Nguyễn Thanh P. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lâm Chí K. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Lâm Chí K mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Long Minh T2. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Long Minh T2 mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
- - Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) nón bảo hiểm màu đỏ, trên nón có chữ “Thanh Thảo”; 01 (Một) cây chỉa bằng kim loại, dài 187 loại có ba mũi chỉa nhọn, mũi chỉa có chiều dài nhất là 47cm, cán dài 140cm và 01 (Một) cây dao tự chế bằng kim loại, dài 90,5cm, có cán dài 17cm.
- - Về trách nhiệm dân sự: Buộc các bị cáo bồi thường cho Vương Hồng P1 chi phí điều trị, tiền thuê xe điều trị, thu nhập bị mất và tổn thất tinh thần theo quy định pháp luật; được nhận số tiền 3.000.000 đồng từ bị cáo Long Minh T2 đã nộp khắc phục hậu quả.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thành P2 cho rằng: Thống nhất Cáo trạng và quan điểm luận tội của Viện kiểm sát về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ đã đề nghị áp dụng cho bị cáo P2. Bị cáo P2 khi thực hiện hành vi phạm tội là người dưới 18 tuổi chưa nhận thức được đầy đủ hành vi vi phạm, học thức bị hạn chế, thành khẩn khai báo, nên xin Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án nhẹ.
Tại phiên tòa các bị cáo Kim Pi S, Nguyễn Thanh P, Lâm Chí K và Long Minh T2 thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, các bị cáo đã hối hận về hành vi của các bị cáo xin được giảm nhẹ để sớm về lo cho gia đình.
Ông Vương Hồng P1 yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự theo chứng từ hoá đơn và bồi thường tổn thất tinh thần theo quy định pháp luật; yêu cầu bồi thường ngay 50% để còn đi phẫu thuật lấy thiết bị cho P1, chi phí phẫu thuật này xin bồi thường sau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[ 2] Tại phiên tòa và quá trình điều tra các bị cáo Kim Pi S, Nguyễn Thanh P, Lâm Chí K và Long Minh T2 đều thừa nhận: Khoảng 01 giờ ngày 24/01/2024, bị cáo S, bị cáo P, bị cáo K, bị cáo T2 cùng với Nguyễn Trọng S1, Lưu Huỳnh N1 (bạn gái của S1), N2 (không rõ nhân thân, bạn gái của bị cáo S) và một số người khác nhậu tại bãi đất trống ở Khóm A, Phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Trong lúc nhậu, tài khoản Facebook của N2 đăng ký tên “Hoàng N2 (Búp)” nhận được tin nhắn của Vương Hồng P1 rủ N2 đi khách sạn thì N2 nói lại cho bị cáo S và mọi người “Thằng lúc nãy gặp ở quán 1991 đó anh, nó ngồi bàn bên kia rủ em đi khách sạn đó”, bị cáo S hỏi Như “Phải thằng có hình xăm trên mặt không?”, N2 nói “Phải”, bị cáo S kêu Như nhắn tin hỏi P1 đang ở đâu và biết P1 đang ở quán cà phê 1991, đường N, Khóm B, Phường E, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Bị cáo S nói “Ai có xe không chở hia đi lấy đồ”, bạn của N2 (không rõ nhân thân) nói “Để em chở hia đi” và điều khiển xe mô tô, loại Wave, màu đen (không rõ biển kiểm soát) chở bị cáo S đến bụi cỏ ven đường, thuộc ấp C, xã H, huyện V, tỉnh Bạc Liêu lấy 01 (Một) cây chỉa bằng kim loại, dài 187cm loại có ba mũi chỉa nhọn, mũi có chiều dài nhất là 47cm, cán dài 140cm và 01 (Một) cây dao tự chế bằng kim loại, dài 90,5cm, có cán dài 17cm rồi cả hai quay lại nhậu. Đến khoảng 02 giờ cùng ngày, bị cáo S nói với bị cáo T2 “Mày chở hia đi đến quán 1991, những người còn lại ai muốn đi thì đi”, bị cáo P nói với bị cáo S “Cho em đi với”, bị cáo K nói với bị cáo P “Để tao chở mày đi”, bị cáo S đưa cây chỉa cho bị cáo P. bị cáo T2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Suzukia, loại Satria, biển kiểm soát 94K2- 057.58 chở bị cáo S cầm theo dao tự chế, bị cáo K điều khiển xe mô tô, loại Wave, màu đen (không rõ biển kiểm soát) chở bị cáo P cầm theo cây chỉa. Khi đến quán 1991, bị cáo S cầm cây dao tự chế đi vào thấy P1 đang uống nước một mình, bị cáo S chỉ tay và nói “Mày đi ra trước nói chuyện với tao”, P1 đứng dậy nói “Từ từ tao ra”; bị cáo P từ bên ngoài vào quán cầm cây chỉa đâm trúng bụng của P1 một cái, P1 té ngã lùi ngồi trên ghế, bị cáo S và bị cáo P nắm cổ áo kéo P1 ra phía trước quán; bị cáo K lấy nón bảo hiểm đánh liên tục nhiều cái trúng đầu, mặt và lưng, đồng thời giật lấy cây dao của bị cáo S đang cầm chém trúng vào người của P1 nhưng không gây thương tích. P1 bỏ chạy vào bên trong quán, thì bị cáo P lấy một cái ly thủy tinh và dùng cán cây chỉa đánh, bị cáo S sử dụng chân đá trúng người, mặt của P1 nhiều cái thì được mọi người can ngăn.
Hành vi của các bị cáo Kim Pi S, Nguyễn Thanh P, Lâm Chí K và Long Minh T2 dùng hung khí nguy hiểm chém, đâm, đánh bị hại nêu trên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự.
[3] Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, những người có liên quan, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Kết luận giám định và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy, chỉ vì P1 nhắn tin cho Như là bạn gái của bị cáo S đi khách sạn, bị cáo S đã đi lấy hung khí là 01 cây dao tự chế, 01 cây chỉa và K cầm nón bảo hiểm đi tìm P1 để đánh, đâm, chém gây thương tích cho P1. Hành vi của các bị cáo sử dụng dao, chỉa, nón bảo hiểm, ly,... là hung khí nguy hiểm, đánh, chém gây thương tích cho P1, xem thường tính mạng, sức khoẻ của người khác, trong khi giữa P1 và các bị cáo không hề có mâu thuẫn, hành vi của các bị cáo có tính chất côn đồ theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 59/KLTTCT-TTPY, ngày 16 tháng 4 năm 2024, của Trung tâm Pháp y tỉnh B kết luận:
“1. Các kết quả chính:
- - Một sẹo ở vùng thượng vị. Tỷ lệ: 01% (Một). Cơ chế hình thành thương tích là do vật sắc nhọn tác động từ trước ra sau.
- - Tổn thương gan điều trị bảo tồn bằng nội khoa kết quả tốt. Tỷ lệ: 07% (Bảy). Cơ chế hình thành thương tích là do vật sắc nhọn tác động từ trước ra sau.
2. Kết luận:
Căn cứ Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Vương Hồng P1 tại thời điểm giám định là: 08% (Tám phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
Kết luận khác: Không”.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống bổ sung số: 04/KLTTBS-TTPY ngày 22 tháng 5 năm 2024, của Trung tâm Pháp y tỉnh B, kết luận:
“1. Các kết quả chính:
- - Một sẹo mổ ở dưới góc hàm trái. Tỷ lệ: 02% (Hai).
- - Gãy xương hàm dưới cổ lồi cầu trái, đã phẫu thuật kết hợp xương, can tốt, không ảnh hưởng chức năng. Tỷ lệ 09% (Chín). Cơ chế hình thành thương tích là do vật tầy tác động từ trái qua phải.
2. Kết luận:
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Vương Hồng P1 tại thời điểm giám định là 11% (Mười một phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
Kết luận khác: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể tại bản kết luận số 59/KLTTCT-TTPY ngày 16/4/2024 và tỷ lệ giám định bổ sung là 18%”.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Kim Pi S, Nguyễn Thanh P, Lâm Chí K và Long Minh T2 nêu trên đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu truy tố các bị cáo Kim Pi S, Nguyễn Thanh P, Lâm Chí K và Long Minh T2 là hoàn toàn đúng người, đúng tội.
[4] Xét tính chất, hành vi phạm tội: Các bị cáo Kim Pi S, Nguyễn Thanh P, Lâm Chí K và Long Minh T2 có đủ nhận thức rõ hành vi của các bị cáo là vi phạm pháp luật, nhưng với bản chất côn đồ, xem thường đến tính mạng, sức khoẻ của người khác, các bị cáo không hề có mâu thuẫn với bị hại, nhưng lại cùng nhau sử dụng dao, chỉa, nón bảo hiểm, ly là hung khí nguy hiểm, đánh, chém P1 gây thương tích theo kết quả giám định là 18% tổn hại sức khoẻ.
Trong vụ án này bị cáo Kim Pi S đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý và xúi giục người dưới 18 tuổi là Nguyễn Thanh P và rủ những bị cáo khác phạm tội nên bị áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định Bộ luật Hình sự, bị cáo là người khởi xướng đánh bị hại, đi lấy hung khí. Bị cáo P là người trực tiếp cầm cây chỉa đâm bị hại gây thương tích, dù bị cáo P là người chưa được 18 tuổi nhưng hành vi của bị cáo là quyết liệt, bất chấp đến tính mạng của người khác; sau đó bị cáo lại còn có hành vi gây thương tích cho người khác, cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác đã bị xử phạt tù và đang chấp hành án, do các hành vi này xảy ra sau và thời điểm phạm tội bị cáo P chưa được 18 tuổi nên theo quy định pháp luật không xác định là có tiền án; tuy bị cáo P khi phạm tội chưa được 18 tuổi, nhưng bị cáo manh động, bất chấp đến tính mạng, sức khoẻ người khác, hành vi rất quyết liệt nhằm gây thương tích cho bị hại. Bị cáo K cũng thể hiện bản chất côn đồ, quyết liệt trong hành vi như dùng nón bảo hiểm đánh liên tục vào bị hại, khi nón bảo hiểm rơi ra thì lấy dao của bị cáo S chém bị hại, dùng tay đánh liên tục bị hại. Bị cáo T2 tuy không trực tiếp đánh và gây thương tích cho bị hại, nhưng biết các bị cáo khác cùng đi đánh P1 thì bị cáo dùng xe để chở bị cáo S đi, nên cũng là đồng phạm trong vụ án, thực hiện với vai trò giúp sức. Các bị cáo trong vụ án là đồng phạm mang tính chất giản đơn, không có phân công vai trò cụ thể từng bị cáo, Hội đồng xét xử sẽ xem xét tính chất, hành vi của từng bị cáo để có mức án tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của từng bị cáo.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những gây mất trật tự trị an tại địa phương mà còn gây tổn hại đến sức khoẻ của người khác, có thể ảnh hưởng đến khả năng lao động, sinh hoạt của người khác, tạo gánh nặng cho xã hội. Hội đồng xét xử cần có mức án tù nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo.
Đối với Nguyễn Trọng S1, Lưu Huỳnh N1 không có thỏa thuận, giúp sức hay xúi giục các bị cáo S, P, K và T2 gây thương tích cho Vương Hồng P1, nên không đề cập xử lý. Đối với người có tên N2 (bạn gái của bị cáo S) và một số người khác không rõ nhân thân, quá trình điều tra không làm việc được, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục điều tra xác minh làm rõ, xử lý theo quy định pháp luật.
[5] Xét tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên Tòa hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo, bị cáo T2 bồi thường khắc phục một phần thiệt hại cho bị hại nên khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo theo quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đối với bị cáo P thời điểm thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ 18 tuổi, Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự và Luật Tư pháp người chưa thành niên đối với với người dưới 18 tuổi phạm tội thể hiện tính khoan hồng của pháp luật. Đối với bị cáo T2 có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội với vai trò giúp sức là chở bị cáo S khi bị cáo S yêu cầu, không thực hiện hành vi đánh, gây thương tích cho P1, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử bị cáo mức án dưới khung hình phạt điều luật quy định thể hiện tính khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng trong vụ án:
Quá trình điều tra đã thu giữ 01 (Một) nón bảo hiểm màu đỏ, trên nón có chữ “Thanh Thảo”; 01 (Một) cây chỉa bằng kim loại, dài 187cm loại có ba mũi chỉa nhọn, mũi chỉa có chiều dài nhất là 47cm, cán dài 140cm và 01 (Một) cây dao tự chế bằng kim loại, dài 90,5cm, có cán dài 17cm là những vật chứng trong vụ án, nên cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định pháp luật.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Vương Hồng P1, sau khi bị nhóm người của Kim P3 Sách đánh gây thương tích nặng, được đưa đến Bệnh viện Đ2, Bệnh viện Đ3 và Bệnh viện Răng hàm mặt Trung ương thành phố H điều trị, ông Vương Hồng C1 là cha của P1 yêu cầu bồi thường số tiền 118.071.023 đồng gồm: Tiền điều trị có hóa đơn 48.371.023 đồng, tiền thuê xe 10.000.000 đồng, chi phí phẫu thuật lấy thiết bị lắp ráp 30.000.000 đồng, thu nhập bị mất 29.700.000 đồng và tổn thất tinh thần theo quy định pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy:
- - Theo các Toa vé điều trị mà bị hại yêu cầu số tiền 48.371.023 đồng là có căn cứ nên được chấp nhận.
- - Chi phí xe: Xe cấp cứu Bệnh viện đưa Cần T5 đi và về số tiền 6.000.000 đồng; chi phí xe đi và về Thành phố Hồ Chí Minh điều trị là 4.000.000 đồng.
- - Tiền mất thu nhập: Bị hại chứng minh tiền lương thu nhập là Phiếu lương của tháng 11, 12/2023 của Công ty TNHH MTV C3 số tiền là 13.500.000 đồng/ tháng; bình quân 01 ngày làm việc là 450.000 đồng/ ngày.
Vương Hồng P1 đã điều trị tại Bệnh viện Răng hàm mặt trung ương Thành phố H từ ngày 26/02/2024 đến ngày 01/3/2024 là 04 ngày; điều trị tại Bệnh viện Đ3 từ ngày 24/01/2024 đến ngày 28/01/2024 là 05 ngày. Nên tổng số ngày nằm viện là 09 ngày, thành tiền là 4.050.000 đồng.
- - Tổn thất tinh thần 18% số tiền là 21.040.000 đồng.
- - Bị hại yêu cầu số tiền lấy thiết bị là 30.000.000 đồng, nhưng chưa có toa vé và chưa thực hiện nên Hội đồng xét xử chưa chấp nhận khoản chi phí này, bị hại có quyền khởi kiện dân sự đối với các bị cáo để yêu cầu bồi thường bằng vụ án dân sự khi có yêu cầu.
Tổng số tiền có căn cứ chấp nhận yêu cầu bồi thường là 83.481.023 đồng, bị cáo Long Minh T2 đã nộp 3.000.000 đồng khắc phục hậu quả, nên các bị cáo còn có trách nhiệm bồi thường số tiền là 80.481.023 đồng, cụ thể: Bị cáo Kim Pi S, bị cáo Nguyễn Thanh P và bị cáo Lâm Chí K mỗi bị cáo phải bồi thường số tiền 22.261.606 đồng; bị cáo Long Minh T2 bồi thường số tiền 16.696.205 đồng, đã nộp 3.000.000 đồng nên bồi thường tiếp 13.696.205 đồng.
Vương Hồng P1 được nhận số tiền 3.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu từ số tiền bị cáo T2 bồi thường.
[8] Về án phí: Các bị cáo Kim Pi S, Nguyễn Thanh P, Lâm Chí K và Long Minh T2 mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự là 200.000 đồng.
Án phí dân sự có giá ngạch bị cáo Kim Pi S, bị cáo Nguyễn Thanh P và bị cáo Lâm Chí K phải nộp số tiền 1.113.080 đồng; bị cáo Long Minh T2 phải nộp số tiền 684.810 đồng.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố các bị cáo Kim Pi S, Nguyễn Thanh P, Lâm Chí K và Long Minh T2 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h, o khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Kim Pi S.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 38, 58, 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thanh P.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lâm Chí K.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 38, 58, khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Long Minh T2.
Xử phạt bị cáo Kim Pi S 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
Xử phạt bị cáo Lâm Chí K 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
Xử phạt bị cáo Long Minh T2 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 587; khoản 1 Điều 590 Bộ luật Dân sự.
Vương Hồng P1 được nhận số tiền 3.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu (theo Biên lai thu tiền 0000667 ngày 14/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu).
Buộc bị cáo Kim Pi S bồi thường cho Vương Hồng P1 số tiền 22.261.606 đồng (Hai mươi hai triệu, hai trăm sáu mươi mốt nghìn, sáu trăm lẻ sáu đồng).
Buộc bị cáo Nguyễn Thanh P bồi thường cho Vương Hồng P1 số tiền 22.261.606 đồng (Hai mươi hai triệu, hai trăm sáu mươi mốt nghìn, sáu trăm lẻ sáu đồng).
Buộc bị cáo Lâm Chí K bồi thường cho Vương Hồng P1 số tiền 22.261.606 đồng (Hai mươi hai triệu, hai trăm sáu mươi mốt nghìn, sáu trăm lẻ sáu đồng).
Buộc bị cáo Long Minh T2 bồi thường cho Vương Hồng P1 số tiền 13.696.205 đồng (Mười ba triệu, sáu trăm chín mươi sáu nghìn, hai trăm lẻ năm đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
- Về vật chứng trong vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) nón bảo hiểm màu đỏ, trên nón có chữ “Thanh Thảo”; 01 (Một) cây chỉa bằng kim loại, dài 187 cm loại có ba mũi chỉa nhọn, mũi chỉa có chiều dài nhất là 47cm, cán dài 140cm và 01 (Một) cây dao tự chế bằng kim loại, dài 90,5cm, có cán dài 17cm
(Vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/02/2025).
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Án phí hình sự sơ thẩm các bị cáo Kim Pi S, Nguyễn Thanh P, Lâm Chí K và Long Minh T2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Án phí dân sự có giá ngạch: Bị cáo Kim Pi S, bị cáo Nguyễn Thanh P và bị cáo Lâm Chí K mỗi bị cáo phải nộp 1.113.080 (Một triệu, một trăm mười ba nghìn, không trăm tám mươi đồng); bị cáo Long Minh T2 phải nộp 684.810 đồng (Sáu trăm tám mươi bốn nghìn, tám trăm mười đồng).
Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm, các bị cáo, bị hại có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Võ Phương Bình |
Bản án số 60/2025/HS-ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 60/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Kim Phi Sách+Nguyễn Thanh Phước+Lâm Chí Khang+Long Minh TRí_CYGTT_Án 60-25.5.2025
