Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SƠN DƯƠNG

TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2025/HS-ST

Ngày 25/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Danh Long;

2. Ông Nguyễn Văn Quang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Trần Thị Minh Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Ngọc Mai – Kiểm sát viên.

Ngày 25/6/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 52/2025/TLST-HS ngày 04/6/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2025/QĐXXST-HS ngày 11/6/2025 đối với bị cáo:

Trịnh Văn Q, sinh ngày: 08/02/1994 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

Nơi cư trú: Thôn V, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trịnh Văn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1948; Vợ: Lục Thị H, sinh năm 1999, con có 02 con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • Bản án số 60/2013/HSST ngày 07/6/2013 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương xử phạt Trịnh Văn Q 01 năm tù cho hưởng án treo, thử thách 02 năm về tội Trộm cắp tài sản. Phải chịu 200.000 đồng án phí HSST, 300.000 đồng án phí DSSTGN, bồi thường 6.000.000 đồng. Ngày 15/8/2013, chấp hành xong phần án phí; ngày 07/6/2015 chấp hành xong hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo. Đối với khoản bồi thường, bị hại không có đơn yêu cầu thi hành án.
  • Bản án số 36/2022/HSST ngày 18/4/2022 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương xử phạt Trịnh Văn Q 07 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Phải chịu 200.000 đồng án phí HSST. Ngày 18/5/2022, chấp hành xong hình phạt tù, ngày 28/5/2022, chấp hành xong án phí.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/3/2025 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.

- Bị hại:

  • Điện lực S. Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Văn T1 – Chức vụ: Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê H1 – Đội trưởng đội KDDV phía Nam thuộc Điện lực S.
  • Ông Vũ Văn T2, sinh năm 1975. Địa chỉ: Thôn T, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
  • Ông Huyên Tiến M, sinh năm 1987. Địa chỉ: Thôn B, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
  • Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1965. Địa chỉ: Thôn B, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
  • Bà Dương Thị L, sinh năm 1968. Địa chỉ: Thôn K, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

(Các bị hại đều vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trịnh Văn Q, sinh năm 1994, cư trú tại thôn V, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang là người nghiện ma túy từ năm 2021 đến nay (kết quả xét nghiệm tìm chất ma túy dương (+) tính, Q khai ngày 16/3/2025, mua ma túy của 01 người đàn ông không rõ tên tuổi địa chỉ tại khu vực thôn Q, xã S, huyện S để sử dụng). Do không có tiền chi tiêu cá nhân nên Q nảy sinh ý định và chuẩn bị các công cụ gồm kìm, cờ-lê, mỏ lết, lưỡi cưa cắt sắt, dao và găng tay, khẩu trang nhằm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản (dây điện) trên địa bàn xã S (các công cụ đều được Q cuốn băng dính vị trí tay cầm để đảm bảo cách điện khi sử dụng). Trong thời gian từ ngày 28/02/2025 đến ngày 06/3/2025, Q đã thực hiện nhiều hành vi trộm cắp tài sản (dây điện), cụ thể như sau:

  • Khoảng 23 giờ ngày 27/02/2025, Q cho những công cụ đã chuẩn bị bị từ trước vào túi nilon màu xanh-đen dạng túi có cúc bấm, sau đó đón xe khách từ nhà xuống địa phận xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang xuống xe đi bộ dọc các tuyến đường trên địa bàn xã S để tìm vị trí vắng người qua lại, có thể trộm cắp được dây điện. Đến khoảng 02 giờ ngày 28/02/2025, Q đi bộ đến đoạn đường bê tông thuộc thôn B, xã S, tại Cột 1.11 đường dây hạ thế sau trạm biến áp thôn B, Q đeo găng tay, trèo lên cột điện dùng kìm cắt trộm 01 đoạn dây cáp đồng P 4*35mm, dài 4,25m; 01 đoạn dây cáp đồng Myle 2*11mm dài 4,25m của Công ty Đ1 và 01 đoạn dây điện loại OSAKA, lõi đồng, kích thước 02x10mm, dài 03 mét của anh Huyên Tiến M, sinh năm 1987 cư trú thôn B, xã S, huyện S. Sau đó, Q đi đến vị trí cột số 1.7 (cách cột 1.11 khoảng 200m), cắt trộm 01 đoạn dây cáp đồng Myle 2*11mm dài 11m của Công ty Đ1.
  • Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 02/3/2025, sau khi chuẩn bị các công cụ như lần trước, Q đón xe khách đi từ nhà xuống địa phận xã S, huyện S rồi xuống xe đi đến khu vực thôn R, xã S, Q phát hiện cột điện hạ thế ghi chữ và số “6/12 TBA Vườn Quan được đặt trên đất vườn nhà ông Trần Văn T4 ở thôn R, xã S, quan sát thấy không có người trông coi, Q trèo qua tường rào và trèo lên cột điện, sử dụng kìm, cưa cắt trộm 02 (hai) đoạn dây điện lõi đồng nối từ điện lưới xuống đồng hồ đo số điện (mỗi đoạn dài khoảng 3,5m, trong đó một đoạn là loại dây cáp đồng 3PVC 3*16+1*10mm² và 01 đoạn dây cáp đồng Myle 2*16mm²) của Công ty Đ1.
  • Khoảng 23 giờ ngày 04/3/2025, Q đón xe khách đi từ nhà xuống địa phận xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang rồi xuống xe. Khoảng 01 giờ ngày 05/3/2025, Q đi bộ đến đoạn đường bê tông thuộc thôn T, xã S, phát hiện đoạn đường vắng, không có người qua lại. Quỳnh trèo lên cột điện hạ thế ghi chữ và số “3.19 TBA Ba Nhà” đặt trên khu đất nhà văn hóa thôn dùng kìm cắt trộm 01 đoạn dây cáp đồng Myle 2*16mm² dài 3,35m của Công ty Đ1. Sau đó, Q tiếp tục đi bộ đến cột điện số 3.22/1.8 TBA BA NHÀ trèo lên cột điện cắt trộm 01 đoạn dây điện nhãn hiệu Cable Technolgy, lõi đồng, loại dây 2x10 dài 58m của ông Vũ Văn T2, sinh năm 1973, cư trú tại thôn T, xã S, huyện S.
  • Khoảng 02 giờ ngày 06/3/2025, với công cụ và thủ đoạn như trên, Q đi bộ đến khu vực thôn B, xã S, trèo lên cột điện hạ thế ghi chữ và số “2.8 TBA BA NHÀ”, cắt 01 đoạn dây điện nhãn hiệu OSAKA, lõi đồng, loại dây 2x6 dài 21 mét của bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1968 và 01 đoạn dây điện nhãn hiệu OSAKA, lõi đồng, loại dây 4x6 dài 25 mét của bà Dương Thị L, sinh năm 1965, cùng cư trú tại thôn B, xã S, huyện S.

Số dây điện sau mỗi lần trộm cắp, Q đem bán cho Nguyễn Quốc Đ, sinh năm 1977, cư trú tại thôn B, xã S, huyện S với giá 40.000 đồng/01 kg. Tổng số tiền Q thu được từ việc bán dây điện trộm cắp được 1.600.000 đồng. Khi mua, Đ không hỏi về nguồn gốc dây điện Q bán. Số tiền bán dây điện Q đã chi tiêu cá nhân hết.

Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 17/3/2025, Q đi bộ dọc các tuyến đường trên địa bàn xã S để tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản thì bị Tổ công tác của Công an xã S phát hiện, mời về trụ sở làm việc. Quá trình làm việc, Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại Kết luận định giá tài sản số 27 ngày 20/3/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện S, tỉnh Tuyên Quang, kết luận:

  • 03 (ba) mét dây điện, nhãn hiệu OSAKA, lõi đồng, loại dây 2x10, bắt đầu sử dụng từ tháng 3/2023, có giá là: 135.000 đồng (một trăm ba mươi lăm nghìn đồng);
  • 25 (hai mươi lăm) mét dây điện, nhãn hiệu OSAKA, lõi đồng, loại dây 4x6, bắt đầu sử dụng từ năm 2020, có giá là: 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng);
  • 21 (hai mươi mốt) mét dây điện, nhãn hiệu OSAKA, lõi đồng, loại dây 2x6, bắt đầu sử dụng từ năm 2023, có giá là: 529.200 đồng (năm trăm hai mươi chín nghìn hai trăm nghìn đồng);
  • 58 (năm mươi tám) mét dây điện, nhãn hiệu Cable Technology, lõi đồng, loại dây 2x10, bắt đầu sử dụng từ tháng 5/2023, có giá là: 2.679.600 đồng (hai triệu sáu trăm bảy mươi chín nghìn sáu trăm đồng);
  • 4,25 (bốn phẩy hai mươi lăm) mét dây điện, cáp đồng P 4x35, bắt đầu sử dụng từ tháng 8/2020, có giá là: 329.375 đồng (ba trăm hai mươi chín nghìn ba trăm bảy mươi lăm đồng);
  • 15,25 (mười lăm phẩy hai mươi lăm) mét dây điện, cáp đồng Myle 2x11, bắt đầu sử dụng từ tháng 8/2020, có giá là: 227.835 đồng (hai trăm hai mươi bảy nghìn tám trăm ba mươi lăm đồng);
  • 3,35 (ba phẩy ba mươi lăm) mét dây điện, cáp đồng Myle 2x16, bắt đầu sử dụng từ tháng 8/2020, có giá là: 69.479 đồng (sáu mươi chín nghìn bốn trăm bảy mươi chín đồng);
  • 3,5 (ba phẩy năm) mét dây điện, cáp đồng P 3x16+1x10, bắt đầu sử dụng từ tháng 08/2022, có giá là: 165.718 đồng (một trăm sáu mươi lăm nghìn bảy trăm mười tám đồng);
  • 3,5 (ba phẩy năm) mét dây điện, cáp đồng Myle 2x16, bắt đầu sử dụng từ tháng 8/2022, có giá là: 96.544 đồng (chín mươi sáu nghìn năm trăm bốn mươi bốn đồng);

Tổng giá trị của tài sản cần định giá tính đến thời điểm bị chiếm đoạt là: 4.832.751 đồng (bốn triệu tám trăm ba mươi hai nghìn bảy trăm năm mươi mốt đồng).

Tại cáo trạng số: 57/CT-VKSSD ngày 03 tháng 6 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang quyết định truy tố đối với bị cáo Trịnh Văn Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với Trịnh Văn Q theo tội danh và điều luật đã nêu trong cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trịnh Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trịnh Văn Q từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo Trịnh Văn Q bị bắt tạm giam (ngày 21/3/2025).

Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy các đồ vật bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội: 01 (một) túi nilon màu xanh-đen, dạng túi hình chữ nhật có cúc bấm, kích thước (30 x 25)cm; 01 (một) kìm bằng kim loại, có tay cầm bọc bằng nhựa được dán hoàn toàn bằng băng dính màu đen, tổng chiều dài là 20cm; 01 (một) mỏ lết kim loại, chiều dài 20cm, phần cán được bọc hoàn toàn bằng băng dính màu đen; 01 (một) cờ lê 10, chiều dài 14cm, phần kim loại được bọc băng dính màu đen; 01 (một) lưỡi cưa sắt có cán bọc bằng băng dính màu đen, chiều dài 29cm; 02 (hai) găng tay vải, có viền xanh, bám dính tạp chất.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/6/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương).

Về bồi thường dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho Điện lực Đ1 số tiền 3.861.830 đồng (Ba triệu tám trăm sáu mươi mốt nghìn tám trăm ba mươi đồng). Các bị hại Huyên T, Vũ Văn T2, Dương Thị L, Nguyễn Thị T3 không yêu cầu bị cáo Trịnh Văn Q phải bồi thường nên không đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra. Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh tại biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ trên đây đủ cơ sở kết luận: Trong thời gian từ ngày 28/02/2025 đến ngày 06/3/2025, tại địa bàn xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, Trịnh Văn Q, cư trú thôn V, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang đã thực hiện nhiều hành vi trộm cắp tài sản (dây điện) của Điện lực S và các cá nhân trên địa bàn xã S gồm: Huyên Tiến M, Vũ Văn T2, Dương Thị L, Nguyễn Thị T3. Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 4.832.751 đồng (bốn triệu tám trăm ba mươi hai nghìn bảy trăm năm mươi mốt đồng).

Hành vi của bị cáo Trịnh Văn Q đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như cáo trạng là đúng người, đúng tội, có căn cứ.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cố ý xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức, nhưng vì nghiện ma túy đã cố ý phạm tội. Bị cáo phải chịu mức án nghiêm khắc là cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội và phòng ngừa tội phạm chung.

[2] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu đã 02 lần bị xét xử về tội Trộm cắp tài sản.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo để quyết định mức án như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp cần chấp nhận.

[3] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

[4] Về bồi thường dân sự: Điện lực Sơn Dương yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền bị thiệt hại như kết luận định giá tài sản là có căn cứ. Do đó, buộc bị cáo bồi thường cho Điện lực Đ1 số tiền 3.861.830 đồng (Ba triệu tám trăm sáu mươi mốt nghìn tám trăm ba mươi đồng). Các bị hại Huyên T, Vũ Văn T2, Dương Thị L, Nguyễn Thị T3 không yêu cầu bị cáo Trịnh Văn Q phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy các đồ vật bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội: 01 (một) túi nilon màu xanh-đen, dạng túi hình chữ nhật có cúc bấm, kích thước (30 x 25)cm; 01 (một) kìm bằng kim loại, có tay cầm bọc bằng nhựa được dán hoàn toàn bằng băng dính màu đen, tổng chiều dài là 20cm; 01 (một) mỏ lết kim loại, chiều dài 20cm, phần cán được bọc hoàn toàn bằng băng dính màu đen; 01 (một) cờ lê 10, chiều dài 14cm, phần kim loại được bọc băng dính màu đen; 01 (một) lưỡi cưa sắt có cán bọc bằng băng dính màu đen, chiều dài 29cm; 02 (hai) găng tay vải, có viền xanh, bám dính tạp chất.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/6/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương).

[5]. Các hành vi khác:

Đối với Nguyễn Quốc Đ khi mua tài sản trộm cắp (dây điện) của Trịnh Văn Q không biết đó là tài sản do trộm cắp mà có nên không có căn cứ xử lý.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Q tại khu vực thôn Q, xã S, huyện S do không xác định được tên tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ điều tra, xử lý.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trịnh Văn Q, Công an xã S đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 03 ngày 17/3/2025, hình thức phạt cảnh cáo.

[6] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố: bị cáo Trịnh Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt: bị cáo Trịnh Văn Q 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (21/3/2025).

  2. Về bồi thường dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, Điều 586; Điều 589, khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự:

    Buộc bị cáo bồi thường cho Điện lực Đ1 số tiền 3.861.830 đồng (Ba triệu tám trăm sáu mươi mốt nghìn tám trăm ba mươi đồng).

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) túi nilon màu xanh-đen, dạng túi hình chữ nhật có cúc bấm, kích thước (30 x 25)cm; 01 (một) kìm bằng kim loại, có tay cầm bọc bằng nhựa được dán hoàn toàn bằng băng dính màu đen, tổng chiều dài là 20cm; 01 (một) mỏ lết kim loại, chiều dài 20cm, phần cán được bọc hoàn toàn bằng băng dính màu đen; 01 (một) cờ lê 10, chiều dài 14cm, phần kim loại được bọc băng dính màu đen; 01 (một) lưỡi cưa sắt có cán bọc bằng băng dính màu đen, chiều dài 29cm; 02 (hai) găng tay vải, có viền xanh, bám dính tạp chất.

    (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/6/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương).

  4. Căn cứ Điều 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

    Bị cáo Trịnh Văn Q phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 25/6/2025), bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND huyện Sơn Dương;
  • - CQCSĐT Công an tỉnh Tuyên Quang;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự CA tỉnh TQ;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang;
  • - Chi cục THADS huyện Sơn Dương;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thị Huyền Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2025/HS-ST ngày 25/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 60/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trịnh Văn Q
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger